1,048 views

Chú Giải Ga-la-ti 4:12-20

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla

Đấng Christ Được Hình Thành
Trong Các Con Dân Chúa Thuộc Hội Thánh

 

12 Hỡi các anh chị em cùng Cha! Tôi xin các anh chị em hãy giống như tôi; vì tôi cũng giống như các anh chị em. Các anh chị em chẳng làm hại gì cho tôi.

13 Các anh chị em biết rằng, trong sự đau yếu của xác thịt mà tôi đã giảng Tin Lành cho các anh chị em lần thứ nhất.

14 Sự thử thách của tôi ở trong xác thịt của tôi, nhưng các anh chị em đã không khinh miệt cũng không chối bỏ tôi. Mà tiếp nhận tôi như một thiên sứ của Thiên Chúa, như Đấng Christ Jesus.

15 Vậy thì sự phước hạnh của các anh chị em là gì? Vì tôi làm chứng cho các anh chị em rằng, nếu có thể được, thì các anh chị em cũng móc con mắt mà cho tôi.

16 Tôi nói lẽ thật cho các anh chị em, lại trở nên kẻ thù nghịch của các anh chị em sao?

17 Những người đó sốt sắng với các anh chị em nhưng không phải là ý tốt. Mà họ muốn cô lập các anh chị em, để các anh chị em sốt sắng với họ.

18 Luôn sốt sắng vì điều thiện thì tốt, không chỉ những khi tôi có mặt với các anh chị em.

19 Hỡi các con nhỏ của ta! Vì các con mà ta lại chịu cơn đau đớn của sự sinh nở, cho đến khi Đấng Christ thành hình trong các con.

20 Tôi muốn ở cùng các anh chị em ngay lúc này, và thay đổi cách nói của tôi. Vì tôi bị bối rối bởi các anh chị em.

 

Bài Giảng Phần Âm Thanh Luôn Có Nhiều Chi Tiết Hơn Bài Giảng Viết
Kính mời quý con dân Chúa dành thời gian nghe bài giảng này, có nhiều thí dụ và giải thích chi tiết hơn là phần bài viết

 Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe


Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để nghe hoặc tải xuống mp3 bài giảng này:

MediaFire: http://www.mediafire.com/download/4ys8vriur05mnr2/904809_Galati_4_12-20.mp3

OpenDrive: https://od.lk/d/MV8xMzUwNTg5ODdf/904809_Galati_4_12-20.mp3

SoundCloud: https://soundcloud.com/huynh-christian-timothy/904809-ga-la-ti-4_12-20

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết pdf:

MediaFire: https://www.mediafire.com/folder/u3amorru4ba4t/baigiang_pdf

OpenDrive: https://od.lk/fl/MV8xNjEzMzAzNV8

Kể từ khi sáng thế, tất cả những ai có đức tin nơi Thiên Chúa và vâng phục Ngài thì đều được gọi là con dân của Thiên Chúa, hay nói ngắn gọn là: con dân Chúa. Trong nguyên ngữ của Thánh Kinh, dù là tiếng Hê-bơ-rơ hay tiếng Hy-lạp, thì danh từ “con” có nghĩa là con cháu ra từ cùng một tổ tiên, danh từ “dân” có nghĩa là công dân trong một vương quốc. Trong tiếng Việt, hai danh từ “con” và “dân” được ghép chung lại, dùng để gọi những người thật lòng tin nhận và vâng phục Thiên Chúa. Con dân của Thiên Chúa hay con dân Chúa là những người cùng lúc có mối quan hệ cha con và mối quan hệ vua dân với Thiên Chúa.

Con dân Chúa được ở trong địa vị làm con nuôi của Đức Chúa Trời, mà Đức Chúa Trời là Thiên Chúa, cho nên, họ được gọi là con cái của Thiên Chúa. Con dân Chúa ở dưới sự cai trị của Đức Chúa Jesus Christ là Vua của Các Vua và Chúa của Các Chúa, mà Đức Chúa Jesus Christ là Thiên Chúa, cho nên, họ được gọi là công dân của Thiên Chúa. Họ là công dân trong Vương Quốc của Đức Chúa Trời, dưới quyền cai trị của Đức Chúa Jesus Christ, trong thời kỳ ngàn năm sau Kỳ Tận Thế lẫn trong cõi đời đời của trời mới đất mới.

Bởi thánh ý của Thiên Chúa mà trong suốt chiều dài lịch sử của nhân loại, Ngài đã biệt riêng một số người trong con dân của Ngài, để ban cho họ một địa vị cao quý hơn tất cả những con dân Chúa khác. Đó là địa vị được đồng trị với Đấng Christ, được kết hiệp với Đấng Christ. Những người ấy được gọi là con dân Chúa trong thời kỳ Hội Thánh. Thời kỳ Hội Thánh bắt đầu từ khi Đấng Thần Linh được ban xuống và ngự vào lòng con dân Chúa, và kéo dài cho đến khi Hội Thánh được Đức Chúa Jesus Christ đem ra khỏi thế gian, trước Kỳ Tận Thế.

Ngày Đức Chúa Jesus Christ thành lập Hội Thánh là ngày Lễ Ngũ Tuần tiếp liền sau khi Chúa phục sinh, nhằm Thứ Sáu, ngày 30 tháng 5 năm 27 [1]. Ngày Đức Chúa Jesus Christ đem Hội Thánh ra khỏi thế gian là bất kỳ lúc nào, và chắc chắn là không còn bao lâu nữa [2]. Trong suốt khoảng thời gian chừng 2,000 năm ấy, tất cả những ai thật lòng ăn năn tội, hoàn toàn tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ, và hết lòng vâng giữ các điều răn của Thiên Chúa, thì vừa được làm con dân của Thiên Chúa, vừa được ở trong Hội Thánh.

Có thể nói, con dân Chúa bao gồm những người thật sự có đức tin nơi Ngài và vâng phục Ngài trong các thời kỳ sau đây:

1. Thời kỳ trước Cựu Ước: Từ A-đam cho đến khi Đức Chúa Trời ban hành Mười Điều Răn và luật pháp chép thành chữ tại núi Si-na-i (Xuất Ê-díp-tô Ký 20). Trong thời kỳ, này con dân Chúa chưa được lập thành một dân tộc.

2. Thời kỳ Cựu Ước: Từ khi Mười Điều Răn và luật pháp chép thành chữ được Đức Chúa Trời ban hành tại núi Si-na-i cho đến khi Đức Chúa Jesus Christ chịu chết trên thập tự giá (Ma-thi-ơ 27, Mác 15, Lu-ca 23, Giăng 19). Trong thời kỳ này, con dân Chúa được lập thành một dân tộc, là dân I-sơ-ra-ên. Những con dân Chúa thuộc các dân tộc khác được kết hiệp làm một với dân I-sơ-ra-ên.

3. Thời kỳ Tân Ước: Từ khi Đức Chúa Jesus Christ chịu chết trên thập tự giá cho đến khi kết thúc Vương Quốc Ngàn Năm (Khải Huyền 20). Trong thời kỳ này, Đức Chúa Trời biệt riêng ra một số con dân Chúa, ban cho họ đặc quyền được kết hiệp với Đức Chúa Jesus Christ và được đồng trị với Ngài. Họ được lập thành một thực thể đặc biệt gọi là Hội Thánh.

4. Thời kỳ Vương Quốc Đời Đời trong trời mới đất mới (Khải Huyền 21). Công dân của Vương Quốc Đời Đời là những ai trung tín với Thiên Chúa trong thời kỳ Vương Quốc Ngàn Năm. Trong Vương Quốc Ngàn Năm thì loài người vẫn còn sinh đẻ (Ê-sai 65), nhưng chúng ta không biết là trong thời kỳ Vương Quốc Đời Đời loài người có tiếp tục sinh đẻ hay không; vì Thánh Kinh không dạy về chi tiết này.

Chúng ta thật là có phước khi được sinh ra trong thời đại của Hội Thánh và được thuộc về Hội Thánh. Đó là ân điển của Thiên Chúa do Ngài tự ý ban cho, không phải vì chúng ta xứng đáng. Vậy, chúng ta hãy giữ mình, không để cho bất cứ một điều tội lỗi nào khiến chúng ta bị trật phần ân điển (Hê-bơ-rơ 12:15), mất đi địa vị cao quý nhất một người có thể có trong toàn lịch sử của nhân loại. Địa vị ấy ngay cả A-đam, Nô-ê, Gióp, Áp-ra-ham, Môi-se, Giô-suê, và Đa-vít… cũng không có được!

Vì chúng ta được kết hiệp với Đức Chúa Jesus Christ, cho nên, sự sống ở trong chúng ta chính là sự sống của Đức Chúa Jesus Christ, như sự sống của gốc nho truyền vào các nhánh nho (Giăng 15:1-6), và đặc biệt là như sự sống từ rễ của cây ô-li-ve thuần giống truyền vào những nhánh ô-li-ve hoang được tháp vào nó (Rô-ma 11:16-18). Sự sống của Đức Chúa Jesus Christ ở trong chúng ta sẽ giúp cho chúng ta trở nên giống như Ngài, y theo sự Đức Chúa Trời đã mạc khải trong Phao-lô mà ông đã viết cho con dân Chúa trong Hội Thánh tại Rô-ma:

Vì những ai Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình ảnh Con Ngài, để cho Con ấy được làm Con Cả ở giữa nhiều anh chị em cùng Cha.” (Rô-ma 8:29).

Và ông cũng viết cho con dân Chúa trong các Hội Thánh tại Ga-la-ti về sự Đấng Christ hình thành trong con dân Chúa, mà trong bài này chúng ta sẽ cùng nhau suy ngẫm.

12 Hỡi các anh chị em cùng Cha! Tôi xin các anh chị em hãy giống như tôi; vì tôi cũng giống như các anh chị em. Các anh chị em chẳng làm hại gì cho tôi.

Sau khi nhắc lại cho con dân Chúa trong các Hội Thánh tại Ga-la-ti nhớ rằng:

  • Loài người, không phân biệt chủng tộc, được cứu và được xưng công bình bởi đức tin vào trong sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ, chứ không phải bởi sự vâng giữ luật pháp.

  • Bởi đức tin mà con dân Chúa được Thiên Chúa trong thân vị Đấng Thần Linh ngự vào trong thân thể họ, với danh xưng là Đức Thánh Linh, để ấn chứng họ đã trở nên con nuôi của Đức Chúa Trời và giúp họ biết gọi Đức Chúa Trời là A-ba: Cha!

  • Mục đích và nhiệm vụ của luật pháp là chỉ cho loài người biết họ đã phạm tội như thế nào và tội lỗi sẽ bị hình phạt như thế nào. Vâng giữ luật pháp thì không bị hình phạt. Vi phạm luật pháp thì sẽ bị hình phạt. Luật pháp không thể cứu được ai.

  • Bởi ân điển của Thiên Chúa, tức là ơn thương xót dành cho những kẻ không đáng được thương xót, mà Ngài ban cho loài người cơ hội cùng phương tiện được cứu. Đó là, Thiên Chúa trong thân vị Ngôi Lời, nhập thế làm người, mang tên là Jesus, được gọi là Christ, chịu chết thay cho toàn thể loài người, để loài người được thoát khỏi sự hình phạt của luật pháp. Loài người chỉ cần tin nhận ân điển của Thiên Chúa, tức là tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ, chứ không cần phải làm gì khác, để được cứu.

  • Trong khi chờ đợi Thiên Chúa hoàn thành công cuộc cứu rỗi nhân loại thì luật pháp dạy cho loài người biết họ đang sống trong tội như thế nào, để dẫn họ đến với Đức Chúa Jesus Christ là Đấng duy nhất có thể cứu chuộc họ. Luật pháp giam giữ toàn thể loài người trong sự rủa sả: Sự rủa sả của Đức Chúa Trời trên những ai vi phạm các điều răn của Ngài. Sự rủa sả của chính luật pháp khi luật pháp lên án chết kẻ phạm tội. Sự rủa sả của tội lỗi vì tội lỗi dẫn đến sự chết.

  • Luật pháp không hủy bỏ giao ước của Đức Chúa Trời đã lập ra với loài người, nhưng giao ước của Đức Chúa Trời không thể hoàn thành nếu luật pháp bị vi phạm. Để có thể hoàn thành giao ước đồng thời thỏa mãn sự đòi hỏi công chính của luật pháp, Đức Chúa Trời đã ban cho loài người ân điển của Ngài qua sự cứu chuộc loài người ra khỏi án phạt của luật pháp, bởi sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ.

  • Con dân Chúa trong thời Tân Ước không còn bị buộc phải vâng giữ các nghi thức làm hình bóng cho sự làm cho sạch tội, sự chuộc tội như sự cắt bì, sự dâng sinh tế, và bảy phương diện mục vụ của Đức Chúa Jesus Christ, như bảy kỳ lễ hội trong Cựu Ước. Họ có thể làm ra các nghi thức ấy như là một sự ghi nhớ ân điển của Thiên Chúa nhưng nếu họ dựa vào đó để được Đức Chúa Trời xưng là công bình, để được cứu rỗi, thì họ chối bỏ năng lực cứu rỗi bởi sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ. Và như vậy, họ buộc phải vâng giữ trọn vẹn mọi điều khoản của luật pháp, là điều mà không ai có thể làm được, nếu không được dựng nên mới trong Đức Chúa Jesus Christ.

Thì Sứ Đồ Phao-lô tâm tình với họ về tình yêu và công khó của ông dành cho họ trong mục vụ giảng Tin Lành cho họ và gây dựng đức tin của họ trong đời sống mới.

Ông tiếp tục gọi họ là “các anh chị em cùng Cha”, để nhấn mạnh đến sự hiệp một của tất cả những ai cùng một đức tin trong Đức Chúa Jesus Christ; để họ nhớ rằng, ông với họ là một. Phao-lô kêu gọi họ hãy trở nên giống như ông trong sự chỉ hoàn toàn tin và làm theo Lời Chúa, không quay về làm nô lệ cho các lề thói của thế gian, kể cả các lề thói của Do-thái Giáo. Vì ông và họ giống nhau. Bản thân ông trước đây cũng như họ: họ từng làm nô lệ cho các lề thói của ngoại giáo thì ông từng làm nô lệ cho các lề thói của Do-thái Giáo, là những thứ không phải là Thiên Chúa. Còn hiện nay: cả ông lẫn họ đều là chi thể của Đức Chúa Jesus Christ, cùng thờ phượng và hầu việc Thiên Chúa. Sự lầm lẫn nghe theo tà giáo, không vâng theo lẽ thật của họ chỉ làm thiệt hại chính họ mà thôi, không làm hại gì đến Phao-lô. Ông đau lòng trước sự vấp ngã của họ và mong muốn họ tỉnh thức, quay về với lẽ thật, để chính họ không bị trật phần ân điển, chứ không phải ông lên tiếng vì họ làm thiệt hại ông.

13 Các anh chị em biết rằng, trong sự đau yếu của xác thịt mà tôi đã giảng Tin Lành cho các anh chị em lần thứ nhất.

Ngày nay, chúng ta quá quen thuộc với các phương tiện giao thông và hệ thống đường xá hiện đại, nên khó mà hình dung ra sự vất vả, nguy hiểm trong các hành trình truyền giáo của Phao-lô. Trong lời tâm tình với con dân Chúa tại Cô-rinh-tô, Phao-lô đã tám lần lập lại chữ “nguy” chỉ trong một câu văn (II Cô-rinh-tô 11:26). Vào thời của Phao-lô, khi phải di chuyển bằng đường bộ từ nơi này sang nơi khác thì phần lớn là người ta đi bộ, trừ những người giàu có thì cỡi lạc đà, còn ngựa và xe ngựa được dành ưu tiên cho quân đội. Thường thì khách bộ hành kết hiệp với nhau và đi theo các đoàn thương buôn để không bị lạc đường và không bị quân cướp tấn công. Bởi vì các đoàn thương buôn có người dẫn đường và có lực lượng bảo vệ, hộ tống hàng hóa.

Rất có thể, trong hành trình truyền giáo lần thứ nhất, khi Phao-lô và Ba-na-ba đến xứ Ga-la-ti thì Phao-lô đã bị bệnh trên đường đi. Có thể là ông đã bị cảm cúm hoặc là bị sốt rét. Sự đau yếu trong xác thịt đã không cản trở Phao-lô trong sứ mạng rao giảng Tin Lành.

Ngay lần đầu tiên khi đến rao giảng trong các thành phố tại Ga-la-ti thì Phao-lô đã chỉ rao giảng Tin Lành. Ông không rao giảng luật pháp. Một số người I-sơ-ra-ên và nhiều người thuộc đủ các chủng tộc khác đã tin nhận Tin Lành và kinh nghiệm sự tái sinh, sự được dựng nên mới, trong Đức Chúa Jesus Christ.

14 Sự thử thách của tôi ở trong xác thịt của tôi, nhưng các anh chị em đã không khinh miệt cũng không chối bỏ tôi. Mà tiếp nhận tôi như một thiên sứ của Thiên Chúa, như Đấng Christ Jesus.

Phao-lô gọi sự đau yếu là sự thử thách trong xác thịt của ông. Danh từ được dịch là “thử thách” trong câu này, trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh, tùy theo văn mạch mà có nghĩa là thử thách hoặc cám dỗ, hoặc cùng lúc mang cả hai nghĩa thử thách và cám dỗ, như trường hợp được dùng trong I Cô-rinh-tô 10:13. Có ai trong chúng ta chưa từng kinh nghiệm sự đau yếu, bệnh tật? Có ai trong chúng ta đã từng kinh nghiệm sự phải gắng sức làm một điều gì đó, dù thân thể đã hầu như kiệt quệ vì đau yếu, bệnh tật? Khi đó, sự gắng sức là một thử thách và ý muốn bỏ cuộc là một cám dỗ. Người ta có thể thắng cám dỗ nhưng không đủ năng lực để vượt qua thử thách. Vì sức người có hạn, nhất là khi thân thể bị bệnh tật tàn phá. Cảm tạ Chúa về lời hứa của Ngài dành cho con dân của Ngài trong hai câu Thánh Kinh sau đây:

Không có sự cám dỗ hoặc thử thách nào quá sức loài người đến cho các anh chị em. Đức Chúa Trời là thành tín, Ngài không bao giờ để cho các anh chị em chịu cám dỗ hoặc thử thách quá sức của các anh chị em; nhưng trong sự cám dỗ hoặc thử thách, Ngài cũng mở đường cho ra khỏi, để các anh chị em có thể chịu được.” (I Cô-rinh-tô 10:13).

Qua Đấng Christ là Đấng ban thêm sức cho tôi, tôi làm được mọi sự.” (Phi-líp 4:13).

Dáng dấp mệt mỏi vì bệnh tật của Phao-lô không khiến cho những người Ga-la-ti khinh miệt và chối bỏ ông. Trái lại, họ tiếp nhận ông như tiếp nhận một thiên sứ của Thiên Chúa, như tiếp nhận chính Đấng mà ông rao giảng: Đức Chúa Jesus Christ.

Có bao giờ chúng ta từng xem khinh một người vì thân thể đau yếu, tật bệnh của họ? Có bao giờ chúng ta vì ghê tởm chứng bệnh của một người mà không tiếp nhận người ấy? Nếu có, chúng ta hãy cầu xin Chúa tha thứ cho chúng ta và giúp chúng ta ghi nhớ tấm gương sáng của người dân Ga-la-ti. Họ đã bất chấp bộ dạng yếu đuối, khó nhìn vì đau yếu của Phao-lô, mà sốt sắng tiếp nhận ông, lắng nghe sứ điệp của ông. Khi biết ông rao giảng về Thiên Chúa, họ đã đối xử với ông như thiên sứ của Thiên Chúa. Khi hiểu ra Tin Lành về sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ do ông rao giảng, họ đã đối với ông như với chính Ngài. Họ biết ơn ông và vâng phục mọi lời giảng dạy của ông.

Có bao giờ chúng ta tiếp nhận những sứ giả chân thật của Chúa như họ là thiên sứ của Chúa, mang thánh ý của Ngài đến cho chúng ta? Nếu chưa thì chúng ta thua xa người dân Ga-la-ti và cần phải học tập từ nơi họ. Từ ngữ “thiên sứ của Thiên Chúa” trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh có nghĩa là người được Thiên Chúa sai đi, mang sứ điệp của Ngài đến cho ai đó hoặc làm ra một việc gì đó giữa loài thọ tạo. Tôn kính sứ giả của Thiên Chúa là tôn kính Thiên Chúa. Xúc phạm sứ giả của Thiên Chúa là xúc phạm Thiên Chúa.

Có bao giờ chúng ta tiếp nhận những người giảng dạy về Đức Chúa Jesus Christ cho chúng ta như tiếp nhận chính Chúa? Nếu chưa thì chúng ta thua xa người dân Ga-la-ti và cần phải học tập từ nơi họ. Trong câu này, Phao-lô dùng danh xưng “Đấng Christ Jesus” thay vì dùng danh xưng “Đức Chúa Jesus Christ” là vì ông muốn nhấn mạnh đến thành quả mục vụ của Ngài trong ba chức vụ: tiên tri, thầy tế lễ, nhà vua. Xin đọc bài “Jesus Christ và Christ Jesus” trên khu mạng www.thanhoc.timhieutinlanh.net [3]. Người dân Ga-la-ti tiếp nhận Phao-lô như tiếp nhận Đấng Christ Jesus vì họ kinh nghiệm được chính Ngài đang hành động qua Phao-lô, đem đến cho họ ân điển cứu chuộc cùng các ơn phước khác. Cũng vì thế mà trong Ga-la-ti 3:1 Phao-lô đã hỏi họ rằng: “Sự Đức Chúa Jesus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá đã được ghi chép và công bố rõ ràng trước mắt những ai giữa vòng các anh chị em?” Phao-lô đã công bố về Đức Chúa Jesus Christ cách rõ ràng trước mắt họ chứ chẳng phải trước mắt ai khác, và khi họ mở lòng ra tin nhận Đức Chúa Jesus Christ thì lập tức họ kinh nghiệm sự được dựng nên mới trong Đấng Christ, được báp-tem bằng thánh linh, được Thiên Chúa ngự vào trong thân thể của họ.

Khi chúng ta sốt sắng vâng phục sự giảng dạy từ những sứ giả chân thật của Chúa, thì chúng ta sẽ kinh nghiệm được năng lực và ơn phước từ chính Chúa trong đời sống của chúng ta. Khi chúng ta tiếp nhận những sứ giả chân thật của Chúa như tiếp nhận chính Chúa, thì chúng ta đã tỏ lòng tôn kính chính Chúa vậy. Đức Chúa Jesus Christ đã phán rõ:

Ai đón nhận các ngươi, tức là đón nhận Ta; ai đón nhận Ta, tức là đón nhận Đấng đã sai Ta.” (Ma-thi-ơ 10:40).

Ai nghe các ngươi, ấy là nghe Ta; ai bỏ các ngươi, ấy là bỏ Ta; còn ai bỏ Ta, ấy là bỏ Đấng đã sai Ta.” (Lu-ca 10:16).

Chúng tôi công bố sự dạy dỗ này cách rõ ràng mà không ngại sẽ bị hiểu lầm là chúng tôi muốn cho người ta tiếp nhận và đối xử với chúng tôi như tiếp nhận và đối xử với thiên sứ của Chúa hoặc chính mình Chúa. Vì nếu chúng tôi lo ngại rằng, bản thân có thể bị hiểu lầm, mà không công bố lẽ thật của Lời Chúa cho con dân Chúa, thì chúng tôi có tội với Chúa và với quý ông bà anh chị em. Con dân chân thật của Chúa sẽ không thể hiểu lầm chúng tôi.

15 Vậy thì sự phước hạnh của các anh chị em là gì? Vì tôi làm chứng cho các anh chị em rằng, nếu có thể được, thì các anh chị em cũng móc con mắt mà cho tôi.

16 Tôi nói lẽ thật cho các anh chị em, lại trở nên kẻ thù nghịch của các anh chị em sao?

Câu: “Vậy thì sự phước hạnh của các anh chị em là gì” mặc dù hình thức là một câu hỏi nhưng ý của nó là một câu cảm thán, có nghĩa là: “Vậy thì lúc bấy giờ sự phước hạnh của các anh chị em lớn biết bao!” Lúc bấy giờ là thời buổi ban đầu khi Phao-lô rao giảng Tin Lành cho họ và họ vui mừng tin nhận. Có một số bản dịch Anh ngữ đã dịch là: “Vậy thì sự phước hạnh của các anh chị em ở đâu” với nghĩa: Sự phước hạnh của các anh chị em trong ngày các anh chị em tin nhận Tin Lành, giờ này sao không còn nhìn thấy trong các anh chị em?

Người tin nhận lẽ thật của Lời Chúa được ở trong sự phước hạnh nhưng nếu người ấy tiếp nhận tà giáo, xa rời lẽ thật của Lời Chúa, thì sẽ không còn ở trong sự phước hạnh. Nhìn vào thực tế chúng ta sẽ thấy rằng, người tiếp nhận tà giáo chỉ biết bám lấy điểm sai lạc của tà giáo ấy, ngoài ra, họ không còn có sự hiểu biết gì khác về Lời Chúa. Chính vì thế mà họ bị sa ngã trở lại vào trong nếp sống tội lỗi cũ.

Phao-lô nhắc cho con dân Chúa tại Ga-la-ti nhớ rằng, họ đã yêu kính ông như yêu kính Chúa và sẵn sàng móc mắt tặng cho ông. Rất có thể Phao-lô đã mượn ý một câu tục ngữ Hy-lạp: “Yêu ai đó hơn chính đôi mắt của mình.” Nhưng cũng có thể Phao-lô muốn nói đến sự kiện con dân Chúa tại Ga-la-ti nhìn thấy ông bị chứng đau mắt, sức nhìn kém, nước mắt cứ chảy ra, nên họ ước gì có thể tặng cho ông đôi mắt khoẻ mạnh của họ. Rất có thể ánh sáng rực rỡ từ trời chiếu vào đôi mắt của Phao-lô trên đường ông đi đến Đa-mách để bách hại Hội Thánh của Chúa, khiến ông bị mù trong ba ngày, đã làm cho mắt của ông sau đó bị yếu đi.

Vậy, có lẽ nào giờ đây, Phao-lô tiếp tục nói lên lẽ thật, chỉ cho họ thấy sự sai lầm nguy hiểm của họ, thì họ ghét bỏ ông?

17 Những người đó sốt sắng với các anh chị em nhưng không phải là ý tốt. Mà họ muốn cô lập các anh chị em, để các anh chị em sốt sắng với họ.

Những người đó là những người rao giảng tà giáo, buộc con dân Chúa người ngoại phải chịu cắt bì và vâng giữ các nghi thức hình bóng của luật pháp. Họ tỏ ra sốt sắng với con dân Chúa tại Ga-la-ti nhưng lòng sốt sắng ấy không phát xuất từ tình yêu chân thật, mà phát xuất từ dã tâm muốn cô lập con dân Chúa ra khỏi bầy, cách xa những người chăn chân thật, để họ dễ dàng dùng tà giáo dụ dỗ con dân Chúa theo họ, đi vào sự hư mất!

18 Luôn sốt sắng vì điều thiện thì tốt, không chỉ những khi tôi có mặt với các anh chị em.

Luôn sốt sắng vì điều thiện thì tốt nhưng sốt sắng với những kẻ rao giảng tà giáo thì không tốt! Phao-lô muốn con dân Chúa tại Ga-la-ti luôn sốt sắng vì điều thiện khi ông ở bên cạnh họ hoặc ngay cả khi ông không ở bên cạnh họ.

19 Hỡi các con nhỏ của ta! Vì các con mà ta lại chịu cơn đau đớn của sự sinh nở, cho đến khi Đấng Christ thành hình trong các con.

Trong tiếng Hy-lạp các nhân xưng đại danh từ không được biến thể cách đặc biệt như trong tiếng Việt. Trong tiếng Hy-lạp “ta” và “tôi” đều dùng cùng một từ, như đại danh từ “I” trong tiếng Anh; “các con” và “các anh chị em” đều dùng cùng một từ, như đại danh từ “you” trong tiếng Anh. Chúng tôi chọn cách dịch “ta” và “các con” trong câu này để nhấn mạnh tâm ý của Phao-lô.

Phao-lô xem tất cả những người tin nhận Tin Lành qua sự rao giảng của ông như là những đứa con thuộc linh của ông mà ông phải cưu mang cho đến khi họ được sinh ra giống như Đấng Christ. Phao-lô đã viết cho con dân Chúa tại Cô-rinh-tô như sau:

Tôi viết những điều này, chẳng phải để làm cho các anh chị em bị hổ thẹn; nhưng để khuyên bảo các anh chị em, cũng như con cái yêu dấu của tôi vậy. Bởi vì, dù cho các anh chị em có hàng vạn người giám hộ trong Đấng Christ nhưng chẳng có nhiều cha; vì trong Đấng Christ Jesus tôi đã sinh ra các anh chị em.” (I Cô-rinh-tô 4:14-15).

Sự kiện này hoàn toàn khác hẳn với sự kiện hàng ngũ tư tế trong Giáo Hội Công Giáo buộc các tín đồ phải gọi họ bằng danh xưng “cha”, thậm chí, bằng danh xưng “Đức Thánh Cha”. Phao-lô xem họ như con đẻ của ông vì ông đem Tin Lành cứu rỗi đến cho họ, chăm sóc, bảo vệ, nuôi dưỡng họ bằng lẽ thật của Lời Chúa cho đến khi họ được “sinh ra”, tức được hoàn toàn trở nên, giống như Đấng Christ. Họ có thể xem Phao-lô như một người cha dẫn dắt, bảo vệ, chăm sóc họ trong lãnh vực thuộc linh. Đây là nói về mối quan hệ tình cảm thân thiết như cha con. Đây không nói đến chức vụ hay danh xưng, hay bất cứ một sự áp đặt nào, một hình thức xưng hô nào. Vì thế, sự Phao-lô xem con dân Chúa như con và họ xem ông như cha không vi phạm đến mệnh lệnh của Chúa trong Ma-thi-ơ 23:9.

Mỗi người thật lòng ăn năn tội, hoàn toàn tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ, thì lập tức được tái sinh thành một người mới. Sự tái sinh ấy xảy ra trong tâm thần và linh hồn là thân thể thiêng liêng và bản ngã của loài người. Phần thân thể xác thịt sẽ được tái sinh (biến hóa) hoặc phục sinh trong ngày Đức Chúa Jesus Christ trở lại để kết thúc thời kỳ Hội Thánh và đem Hội Thánh ra khỏi thế gian, mở đầu cho thời kỳ phán xét toàn thế gian. Vì con dân Chúa vẫn còn sống trong thân thể xác thịt yếu đuối nên bản ngã của họ phải cầm quyền điều khiển thân thể xác thịt, bắt nó phải vâng phục thần trí, tức là những sự tri thức của tâm thần. Sự cầm quyền ấy cũng chính là sự thực tập quyền làm vua của mỗi người. Nếu chúng ta không thể cai trị được mình thì làm sao chúng ta có thể cai trị ai khác? Trước khi Đức Chúa Jesus Christ cứu chúng ta và cai trị chúng ta, Ngài đã cai trị chính mình Ngài, hoàn toàn vâng phục và làm trọn mọi đòi hỏi của luật pháp. Sứ Đồ phi-e-rơ nói về Ngài như sau:

Ngài không làm ra tội, trong miệng Ngài không tìm thấy sự gian trá.” (I Phi-e-rơ 2:22).

Sứ Đồ Phao-lô cũng nói về chính mình như sau:

…nhưng tôi kỷ luật thân thể mình, bắt nó phải phục, vì sợ rằng, sau khi tôi đã giảng dạy những người khác mà chính mình phải bị bỏ chăng.” (I Cô-rinh-tô 9:27).

Và ông kêu gọi con dân Chúa:

Vậy, tôi khuyên các anh chị em: Hãy bắt chước tôi!” (I Cô-rinh-tô 4:16).

Hãy bắt chước tôi cũng như tôi bắt chước Đấng Christ vậy!” (I Cô-rinh-tô 11:1).

Con dân Chúa được dựng nên mới là người được dựng nên giống như Thiên Chúa, trong sự công bình và sự thánh sạch chân thật (Ê-phê-sô 4:24). Nhưng đó là về bề trong và là sự Thiên Chúa làm ra cho chúng ta: Đức Chúa Trời tha tội cho chúng ta, xưng chúng ta là công bình, và nhận chúng ta làm con nuôi của Ngài. Đức Chúa Jesus Christ dùng máu Ngài rửa sạch mọi tội lỗi của chúng ta, làm cho linh hồn của chúng ta không còn mang bản tính tội, và Ngài ban ân điển, thêm sức cho chúng ta để chúng ta có thể sống theo Lời Chúa. Đức Thánh Linh tiếp tục thánh hóa chúng ta bằng cách giúp cho chúng ta thông hiểu Lời Chúa và ban cho chúng ta đủ mọi ân tứ cần dùng để chúng ta có thể làm tròn những việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho chúng ta. Còn về bề ngoài, chính chúng ta phải bắt thân thể xác thịt của mình phục theo thần trí của mình, để chúng ta trở thành muối của đất và ánh sáng của thế gian. Khiến cho trái của Đấng Thần Linh thể hiện qua nếp sống của chúng ta, từ ý nghĩ, ước muốn, sở thích, lời nói, thái độ, cử chỉ, và mọi việc làm của chúng ta đều chiếu ra vinh quang của Thiên Chúa. Ấy là lúc Đấng Christ hình thành cách đầy trọn trong chúng ta. Ấy là lúc mọi người nhìn vào chúng ta thì thấy chúng ta giống Chúa.

Những người chăn và trưởng lão trong Hội Thánh có nhiệm vụ cho chiên của Chúa ăn nuốt Lời Ngài để bầy chiên của Chúa được trưởng thành thuộc linh. Sứ Đồ Phi-e-rơ viết về người mới đến với Chúa như sau:

Vậy, các anh chị em đã từ bỏ mọi điều độc ác, mọi điều gian trá, mọi thứ giả hình, lòng ghen ghét, và sự vu khống, như những trẻ con mới được sinh ra, thèm muốn sữa thật của Lời, để cho các anh chị em nhờ đó lớn lên. Nếu vậy, các anh chị em đã nếm biết Chúa là ngọt ngào.” (I Phi-e-rơ 2:1-3).

Chỉ có ăn nuốt Lời Chúa cách sốt sắng như Giê-rê-mi mới khiến cho chúng ta được trưởng thành nhanh chóng và khoẻ mạnh về thuộc linh:

Tôi vừa nghe những lời Ngài, thì đã ăn lấy rồi; lời Ngài là sự vui mừng hớn hở của lòng tôi vậy. Hỡi Thiên Chúa Tự Hữu Hằng Hữu Vạn Quân, vì tôi được xưng bằng danh Ngài!” (Giê-rê-mi 15:16).

Tác giả Thi Thiên 119 đã viết lên một bản trường ca về sự thiêng liêng, thánh khiết, công bình, tôn quý, đầy dẫy năng lực, và ngọt ngào của Lời Chúa.

20 Tôi muốn ở cùng các anh chị em ngay lúc này, và thay đổi cách nói của tôi. Vì tôi bị bối rối bởi các anh chị em.

Phao-lô muốn có mặt ngay tại chỗ với con dân Chúa tại Ga-la-ti để ông được tai nghe, mắt thấy mọi sự, hiểu biết một cách thật rõ ràng và chắc chắn tình trạng thuộc linh của họ, để rồi ông sẽ thay đổi cách nói cho phù hợp với tình trạng của họ. Từ ngữ được dịch là “bối rối” trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh bao gồm các nghĩa sau đây: Không có đủ dữ kiện, tài nguyên, thông tin để biết phải quyết định như thế nào. Nghi ngờ. Bối rối.

Kính thưa Hội Thánh. Có hai câu hỏi quan trọng mà mỗi chúng ta cần tự hỏi chính mình là:

  • Chúng ta đang trưởng thành trong Chúa hay chúng ta vẫn còn là con trẻ thuộc linh? Đấng Christ đã hình thành trong chúng ta và chúng ta đã giống Chúa hay chúng ta vẫn còn giữ nguyên các thứ nết xấu xưa cũ của xác thịt?

  • Chúng ta đang khao khát, say mê đọc và suy ngẫm Lời Chúa, nhận lãnh sự khôn ngoan và năng lực từ Lời Chúa, hay là chúng ta đang tìm kiếm những bí quyết, lý luận, triết học của thế gian, và những tư tưởng thần học nghịch Thánh Kinh của các giáo hội?

Nguyện tình yêu, ân điển, và sự thông công từ Thiên Chúa bao phủ quý ông bà anh chị em. Nguyện tâm thần, linh hồn, và thân thể của mỗi chúng ta đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, cho sự đến của Đức Chúa Jesus Christ chúng ta! A-men!

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
16/04/2016

Ghi Chú

[1] Xin đọc tiết mục “Năm Do-thái 3787” trong bài này: http://kytanthe.net/?p=40

[2] Xin đọc bài “Cây Vả I-sơ-ra-ên: Điềm Chúa Đến” tại đây: http://kytanthe.net/?p=306

[3] Xin đọc bài “Jesus Christ và Christ Jesus” tại đây: http://thanhoc.timhieutinlanh.net/?p=16

 

Share This:

Comments are closed.

1,048 views