2,027 views

Chú Giải I Giăng: 906210_I Giăng 4:7-21

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla

Con Dân Chúa Phản Ánh Vinh Quang
của Đức Chúa Trời

Bài Giảng Phần Âm Thanh Luôn Có Nhiều Chi Tiết Hơn Bài Giảng Viết
Kính mời quý con dân Chúa dành thời gian nghe bài giảng này, có nhiều thí dụ và giải thích chi tiết hơn là phần bài viết

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống mp3 bài giảng này:
https://www.opendrive.com/folders?MV8xMzUyNTQyOF9udGRmTw

Hoặc bấm vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống tất cả các bài Chú Giải I Giăng:
https://soundcloud.com/huynh-christian-timothy/sets/chu-giai-i-giang

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết pdf:
https://www.opendrive.com/folders?MV8xMzUyNTU4N19uM0xvSg

Bấm vào nút “play” ► để nghe:

7 Hỡi các con yêu dấu, chúng ta hãy yêu lẫn nhau; vì tình yêu thuộc về Đức Chúa Trời. Người nào yêu, thì sinh bởi Đức Chúa Trời và biết Đức Chúa Trời.

8 Ai chẳng yêu, thì không biết Đức Chúa Trời; vì Đức Chúa Trời là tình yêu.

9 Tình yêu của Đức Chúa Trời đối với chúng ta đã bày tỏ ra trong điều này: Vì Đức Chúa Trời đã sai Con Một của Ngài vào trong thế gian, để qua Con ấy mà chúng ta được sống.

10 Đây là tình yêu: ấy chẳng phải chúng ta đã yêu Đức Chúa Trời, nhưng Ngài đã yêu chúng ta, và sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội cho chúng ta.

11 Hỡi các con yêu dấu, nếu Đức Chúa Trời đã yêu chúng ta dường ấy, thì chúng ta cũng phải yêu lẫn nhau.

12 Chưa có người nào thấy Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta yêu lẫn nhau, thì Đức Chúa Trời ở trong chúng ta, và tình yêu của Ngài được trọn vẹn trong chúng ta.

13 Bởi điều này, chúng ta biết mình ở trong Ngài và Ngài ở trong chúng ta: là Ngài đã ban Đấng Thần Linh của Ngài cho chúng ta.

14 Chúng tôi đã thấy và làm chứng rằng, Đức Cha đã sai Đức Con làm Đấng Giải Cứu thế gian.

15 Hễ ai xưng Đức Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời ở trong người ấy, và người ấy ở trong Đức Chúa Trời.

16 Chúng ta đã biết và tin tình yêu của Đức Chúa Trời đối với chúng ta. Đức Chúa Trời là tình yêu, ai ở trong tình yêu, là ở trong Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời ở trong người ấy.

17 Này vì sao mà tình yêu được nên trọn vẹn trong chúng ta, để cho chúng ta được lòng can đảm trong ngày phán xét? Bởi vì, Chúa thế nào thì chúng ta cũng thế ấy trong thế gian này.

18 Chẳng có sự sợ hãi trong tình yêu, nhưng tình yêu trọn vẹn thì cất đi sự sợ hãi; vì sự sợ hãi có hình phạt. Ai sợ hãi thì không được trọn vẹn trong tình yêu.

19 Chúng ta yêu Ngài, vì Ngài đã yêu chúng ta trước.

20 Nếu có ai nói rằng: Tôi yêu Đức Chúa Trời, mà lại ghét anh em mình, thì ấy là kẻ nói dối. Vì ai chẳng yêu anh em mình thấy, thì không thể yêu Đức Chúa Trời mình chẳng thấy được.

21 Chúng ta đã nhận nơi Ngài điều răn này: Ai yêu Đức Chúa Trời, thì cũng phải yêu anh em mình.


Con dân Chúa là những người đã được dựng nên mới trong Đức Chúa Jesus Christ, được giống như Thiên Chúa trong sự công bình và trong sự thánh sạch chân thật (Ê-phê-sô 4:24). Chính vì thế mà con dân Chúa phản chiếu ánh vinh quang của Thiên Chúa. Thiên Chúa là tình yêu, và tình yêu thì luôn luôn công bình, luôn luôn thánh sạch. Phản ánh Thiên Chúa tức là phản ánh tình yêu, sự công bình và sự thánh sạch của Thiên Chúa.

Trong bài này, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa của sự phản chiếu ánh vinh quang của Thiên Chúa, qua sự thể hiện tình yêu của Đức Chúa Trời ở trong mỗi chúng ta, đối cùng anh chị em trong Hội Thánh, như đã được trình bày trong I Giăng 4:7-21.

7 Hỡi các con yêu dấu, chúng ta hãy yêu lẫn nhau; vì tình yêu thuộc về Đức Chúa Trời. Người nào yêu, thì sinh bởi Đức Chúa Trời và biết Đức Chúa Trời.

8 Ai chẳng yêu, thì không biết Đức Chúa Trời; vì Đức Chúa Trời là tình yêu.

Mệnh đề: “vì tình yêu thuộc về Đức Chúa Trời,” có nghĩa là: Tình yêu là bản tính của Đức Chúa Trời và ra từ Đức Chúa Trời; bởi vì Đức Chúa Trời là tình yêu.

Trong thế gian, loài người quen miệng nói về tình yêu, nhưng tình yêu của thế gian không phải là tình yêu đúng nghĩa. Tình yêu của thế gian là tình yêu nếu và tình yêu vì.

  • Nếu anh giàu thì em yêu anh.

  • Vì em đẹp nên anh yêu em.

Trong khi đó, tình yêu của Đức Chúa Trời là tình yêu mặc dầu. Mặc dầu loài người đắm chìm trong tội lỗi, phản nghịch Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa vẫn yêu loài người. Tình yêu ấy được thể hiện qua ý muốn cứu chuộc của Đức Chúa Trời, dẫn đến sự hy sinh nhập thế làm người để chết chuộc tội cho nhân loại của Ngôi Lời, và kết quả với sự liên tục thánh hóa, ban ơn của Đấng Thần Linh.

Chỉ khi nào một người tiếp nhận tình yêu của Đức Chúa Trời, sự hy sinh của Ngôi Lời, và sự thánh hóa của Đấng Thần Linh, thì người ấy mới biết yêu và có khả năng yêu bằng một tình yêu chân thật.

Động từ yêu trong hai câu:

Người nào yêu, thì sinh bởi Đức Chúa Trời và biết Đức Chúa Trời;”

Ai chẳng yêu, thì không biết Đức Chúa Trời;”

đều có nghĩa là yêu như Đức Chúa Trời yêu. Có nghĩa là, yêu hơn yêu chính mình, sẵn sàng hy sinh mọi sự mình có, để người mình yêu có cơ hội thoát ra khỏi tội lỗi và sự chết, vào trong sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, và đạt đến giá trị thật mà Đức Chúa Trời đã định cho người ấy.

Chính vì thế mà người nào biết yêu thì thuộc về Đức Chúa Trời, tức là được sinh bởi Đức Chúa Trời và có sự hiểu biết Đức Chúa Trời cách mật thiết. Vì người được sinh bởi Đức Chúa Trời thì giống như Thiên Chúa.

9 Tình yêu của Đức Chúa Trời đối với chúng ta đã bày tỏ ra trong điều này: Vì Đức Chúa Trời đã sai Con Một của Ngài vào trong thế gian, để qua Con ấy mà chúng ta được sống.

10 Đây là tình yêu: ấy chẳng phải chúng ta đã yêu Đức Chúa Trời, nhưng Ngài đã yêu chúng ta, và sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội cho chúng ta.

Chúng ta đã học trong I Giăng 3:18 rằng:

Hỡi các con cái bé nhỏ, chớ yêu bằng lời nói và lưỡi, nhưng bằng việc làm và lẽ thật.”

Đức Chúa Trời đã yêu loài người bằng việc làm và lẽ thật. Ngài đã để cho Ngôi Lời từ bỏ mọi vinh quang của thiên đàng, nhập thế, sinh ra làm người, gánh thay hình phạt của tội lỗi cho toàn thể nhân loại. Lẽ thật là: Tội lỗi phải bị hình phạt để thỏa mãn bản tính thánh khiết của Thiên Chúa. Ngôi Lời nhập thế làm người, gánh thay hình phạt của tội lỗi cho toàn thể nhân loại để thỏa mãn bản tính yêu thương của Thiên Chúa. Vì cớ Ngôi Lời gánh thay hình phạt mà loài người được tha tội, thể hiện bản tính công bình của Thiên Chúa. Được tha tội tức là không còn bị chết thuộc linh, tức là không còn bị phân cách khỏi Đức Chúa Trời, không còn phải chịu khổ đời đời trong hỏa ngục.

Tuy nhiên, loài người chỉ có thể được tha tội nếu thật lòng ăn năn tội và hoàn toàn tin nhận sự chuộc tội của Ngôi Lời.

Tình yêu của Đức Chúa Trời là tình yêu thật, hoàn toàn khác với loại tình yêu nếu và vì của loài người. Ngài yêu chúng ta và ban ơn cứu chuộc cho chúng ta ngay khi chúng ta còn sống trong tội lỗi và phản nghịch Ngài. Ngài không chờ cho chúng ta kêu cầu Ngài hay hứa với Ngài là chúng ta sẽ ăn năn tội, thì Ngài mới yêu chúng ta. Ngài yêu chúng ta vì Ngài là tình yêu và Ngài chủ động làm hết tất cả những gì mà Thiên Chúa Toàn Năng có thể làm, để cứu chúng ta ra khỏi tội lỗi, và phục hồi địa vị làm con của Đức Chúa Trời cho chúng ta.

11 Hỡi các con yêu dấu, nếu Đức Chúa Trời đã yêu chúng ta dường ấy, thì chúng ta cũng phải yêu lẫn nhau.

12 Chưa có người nào thấy Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta yêu lẫn nhau, thì Đức Chúa Trời ở trong chúng ta, và tình yêu của Ngài được trọn vẹn trong chúng ta.

Nếu Đức Chúa Trời vĩ đại, vinh quang, giàu có, quyền thế đã vì yêu chúng ta mà hy sinh như vậy, thì chúng ta cũng phải yêu lẫn nhau như Ngài đã yêu chúng ta, nếu chúng ta thật sự đã được sinh ra bởi Ngài. Sự chúng ta yêu lẫn nhau đó không phải là một sự gượng ép, rán sức, mà là sự thể hiện bản tính tự nhiên của những người đã được sinh ra bởi Đức Chúa Trời, có tình yêu của Đức Chúa Trời ở trong họ. Nói cách khác, sự con dân Chúa yêu lẫn nhau là sự chính Đức Chúa Trời thể hiện tình yêu của Ngài đối với Hội Thánh qua từng con dân của Ngài. Vì thế, hoặc là chúng ta thật sự được sinh bởi Đức Chúa Trời và chúng ta có tình yêu của Đức Chúa Trời ở trong chúng ta, để chúng ta yêu anh chị em của mình trong Chúa, như chính Chúa đã yêu mình. Hoặc là chúng ta chưa được sinh ra bởi Đức Chúa Trời nên chúng ta không thể tự nhiên yêu anh chị em của mình trong Chúa.

Một trong những nan đề rất lớn trong Hội Thánh là có nhiều người tự cho mình cao trọng hơn người khác; tự cho rằng người khác phải hy sinh cho mình chứ mình không thể hy sinh cho người khác. Những người như vậy, có thể họ thật lòng tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ, nhưng họ chưa thật sự ăn năn, từ bỏ tội kiêu ngạo, tội yêu chính mình hơn yêu người khác, nên không bao giờ học biết những lẽ thật sau đây của Thánh Kinh:

Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của Ta, và học theo Ta” (Ma-thi-ơ 11:29).

Vậy, nếu Ta là Chúa là Thầy, mà đã rửa chân cho các ngươi, thì các ngươi cũng nên rửa chân lẫn cho nhau” (Giăng 13:14).

Chớ làm điều gì vì lòng tranh cạnh hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường, coi người khác như tôn trọng hơn mình” (Phi-líp 2:3).

Điều răn của Ta đây này: Các ngươi hãy yêu nhau, cũng như Ta đã yêu các ngươi” (Giăng 15:12).

Những người như vậy, nếu không ăn năn, sẽ đến một lúc bị Chúa mửa ra. Ai khinh dễ, xem thường bất cứ một người nào trong Hội Thánh là khinh dễ, xem thường Chúa. Ai tôn trọng bất cứ một người nào trong Hội Thánh, là tôn trọng Chúa. Tất cả những gì chúng ta làm cho nhau là làm cho Chúa. Tất cả những gì chúng ta không làm cho nhau là không làm cho Chúa:

Vua sẽ trả lời rằng: Quả thật, Ta nói với các ngươi, các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn này của anh em Ta, ấy là đã làm cho chính mình Ta vậy” (Ma-thi-ơ 25:40).

Ngài sẽ đáp lại rằng: Quả thật, Ta nói với các ngươi, các ngươi không làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn này, ấy là các ngươi cũng không làm cho Ta nữa” (Ma-thi-ơ 25:45).

Mọi lời phán dạy của Chúa mà chúng ta cùng nhau học ngày hôm nay, giúp cho chúng ta biết thế nào là bản tính chân thật của một người thật sự ở trong Chúa, thật sự được dựng nên mới giống như Chúa, chứ không phải là các mệnh lệnh dạy chúng ta sống giả hình, giả vờ yêu anh chị em trong Chúa hơn chính mình khi chúng ta không thật lòng yêu họ.

13 Bởi điều này, chúng ta biết mình ở trong Ngài và Ngài ở trong chúng ta: là Ngài đã ban Đấng Thần Linh của Ngài cho chúng ta.

Ấn chứng từ Đức Chúa Trời cho chúng ta biết chúng ta đã thuộc về Đức Chúa Trời là sự Ngài đã ban Đấng Thần Linh của Ngài tức là Thiên Chúa Ngôi Ba ngự vào trong thân thể của chúng ta. Thánh Kinh đã khẳng định sự kiện Đấng Thần Linh của Thiên Chúa ngự trong thân thể của con dân Chúa, với danh xưng Đức Thánh Linh.

Anh em chẳng biết mình là đền thờ của Thiên Chúa, và Đấng Thần Linh của Đức Chúa Trời ở trong anh em sao? Vì có ai phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời sẽ phá hủy họ; vì đền thờ của Đức Chúa Trời là thánh, mà chính anh em là đền thờ” (I Cô-rinh-tô 3:16-17).

Anh em chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận bởi Thiên Chúa, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao? Bởi vì anh em đã được chuộc bằng giá cao rồi. Vậy, hãy lấy thân thể và tâm thần mình đã thuộc về Đức Chúa Trời mà làm vinh hiển Đức Chúa Trời” (I Cô-rinh-tô 6:19-20).

Anh em chớ làm buồn cho Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời, vì nhờ Ngài anh em được ấn chứng đến ngày cứu chuộc” (Ê-phê-sô 4:30).

Sự kiện Thiên Chúa Đấng Thần Linh ngự trong thân thể con dân Chúa vừa là ấn chứng cho con dân Chúa, mà cũng vừa biến thân thể của con dân Chúa thành đền thờ của Thiên Chúa. Người thật sự có Đức Thánh Linh ngự trong thân thể sẽ nhận biết Ngài và quý trọng thân thể của mình, không để cho thân thể bị ô uế về thuộc thể lẫn thuộc linh. Về thuộc thể thì năng tắm rửa, nghỉ ngơi vào mỗi ngày Sa-bát Thứ Bảy; về thuộc linh thì không tư tưởng tội, không nói tội, không làm tội.

14 Chúng tôi đã thấy và làm chứng rằng, Đức Cha đã sai Đức Con làm Đấng Giải Cứu thế gian.

15 Hễ ai xưng Đức Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời ở trong người ấy, và người ấy ở trong Đức Chúa Trời.

Sứ Đồ Giăng dùng đại danh từ “chúng tôi” trong câu 14 để nói lên ông và các sứ đồ khác của Chúa đã thấy và làm chứng cho sự kiện Đức Chúa Trời đã sai Đức Chúa Jesus làm Đấng Christ để giải cứu thế gian. Chúng ta cần hiểu rõ thứ tự của sự kiện Thiên Chúa Ngôi Lời nhập thế làm người trong địa vị Con của Đức Chúa Trời để làm Đấng Giải Cứu Thế Gian.

Trong sự biết trước của Thiên Chúa, từ trong cõi đời đời, trước khi Thiên Chúa sáng tạo thế gian và loài người, Thiên Chúa biết rằng loài người được dựng nên sẽ bị Sa-tan cám dỗ, bị sa ngã, rồi sống trong tội, nhưng sẽ có nhiều người tìm kiếm Thiên Chúa trong mọi thời đại. Vì thế, Ba Ngôi Thiên Chúa đã lên chương trình cứu chuộc nhân loại. Trong chương trình ấy:

  • Đức Chúa Trời bày tỏ tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người bằng cách ban ơn tha tội và ban cho loài người cơ hội tin nhận sự cứu rỗi.

  • Ngôi Lời bày tỏ tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người bằng cách giáng thế làm người, giãi bày tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho loài người; rồi gánh thay hình phạt của tội lỗi cho loài người.

  • Đấng Thần Linh bày tỏ tình yêu của Thiên Chúa cho loài người bằng cách cáo trách loài người về tội lỗi, ban sự hiểu biết về ơn cứu rỗi, và ban năng lực của Thiên Chúa cho những ai tin nhận ơn cứu rỗi.

Khi Ngôi Lời nhập thế làm người, thì con người xác thịt ấy được Đức Chúa Trời sinh ra trong lòng trinh nữ Ma-ri, bởi năng lực của Đấng Thần Linh, nên được gọi là Con của Đức Chúa Trời. Trong thân vị loài người đó, Đức Chúa Jesus được ban cho các chức vụ: tiên tri, thầy tế lễ, và vua, để rao giảng về Đức Chúa Trời, dâng tế lễ chuộc tội cho nhân loại, và cai trị Vương Quốc của Đức Chúa Trời. Trước khi nhập thế làm người, Ngôi Lời đồng tự có và có mãi với Đức Chúa Trời và Đấng Thần Linh. Đó là sự tự hữu hằng hữu của một Thiên Chúa thể hiện trong ba thân vị.

Xưng Đức Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời là công nhận sự Ngài là Ngôi Lời nhập thế làm người, chứ không phải phủ nhận Ngài là Thiên Chúa. Tà giáo phủ nhận thần tính của Đức Chúa Jesus Christ không công nhận Ngài là Thiên Chúa nhập thế làm người cho rằng:

  • Ngài được sinh ra bởi Đức Chúa Trời từ trước khi sáng thế. Quan điểm này không hề có trong Thánh Kinh, trái lại, Thánh Kinh gọi Ngài là Đấng Tự Hữu Hằng hữu.

  • Hoặc, Ngài là một thần linh được tạo ra bởi Đức Chúa Trời. Quan điểm này thuộc về Giáo Hội Chứng Nhân Giê-hô-va.

Thánh Kinh khẳng định: Ban đầu Ngôi Lời! Và: Ngôi Lời Thiên Chúa! Thánh Kinh gọi Ngài là: Đấng Tự Hữu Hằng Hữu Vua Vạn Quân! Thiên Chúa Quyền Năng! Cha Đời Đời! Vua của Muôn Vua – Chúa của Muôn Chúa! Đấng Đầu Tiên và Đấng Cuối Cùng. Sự Sống! Sự Sáng! Lẽ Thật! Tất cả các danh xưng này chỉ thích hợp để gọi Thiên Chúa tự có và có mãi. Tất cả các danh xưng này không thể dùng để gọi một tạo vật.

Nếu một người xưng nhận Đức Chúa Jesus là Con của Đức Chúa Trời nhưng lại phủ nhận thần tính của Ngài, thì người ấy không có Đức Thánh Linh ngự trong thân thể của người ấy, tức là chưa được cứu rỗi. Bởi vì, một người có Đức Thánh Linh ngự trong thân thể là một người nhận biết các lẽ thật về Đức Chúa Jesus Christ, do chính Đức Thánh Linh giảng dạy:

Khi nào Đấng Yên ủi sẽ đến, là Đấng Ta sẽ bởi Cha sai xuống, tức là Thần lẽ thật ra từ Cha, ấy chính Ngài sẽ làm chứng về Ta” (Giăng 15:26).

Thần Lẽ Thật tức là Đức Thánh Linh và Đức Thánh Linh luôn làm chứng trong lòng con dân chân thật của Chúa, rằng: Đức Chúa Jesus Christ là Thiên Chúa nhập thế làm người! Lời chứng của Đức Thánh Linh đã được ghi lại thành văn tự qua các câu Thánh Kinh đã dùng các danh xưng của Thiên Chúa để gọi Đức Chúa Jesus Christ.

16 Chúng ta đã biết và tin tình yêu của Đức Chúa Trời đối với chúng ta. Đức Chúa Trời là tình yêu, ai ở trong tình yêu, là ở trong Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời ở trong người ấy.

Là con dân chân thật của Chúa, có Đức Thánh Linh ngự trong thân thể, đương nhiên chúng ta nhận biết tình yêu của Đức Chúa Trời đối với chúng ta và chúng ta hoàn toàn tin cậy vào tình yêu của Ngài. Ngay cả khi các thánh đồ thời Cựu Ước là thời mà Ngôi Ba Thiên Chúa chưa giáng thế ngự vào thân thể của con dân Thiên Chúa, thì họ cũng nhận biết và tin tình yêu của Đức Chúa Trời đối với họ. Chính vì thế mà Gióp đã nói:

Mặc dầu xảy đến cho ta điều gì… Dẫu Chúa có giết ta, ta vẫn còn nhờ cậy nơi Ngài!” (Gióp 13:13, 15).

Đức Chúa Trời là tình yêu! Điệp khúc này nhắc cho chúng ta nhớ và hiểu rằng: Tình yêu chính là bản tính của Đức Chúa Trời. Vì thế, người ở trong tình yêu là người ở trong Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời ở trong người ấy.

17 Này vì sao mà tình yêu được nên trọn vẹn trong chúng ta, để cho chúng ta được lòng can đảm trong ngày phán xét? Bởi vì, Chúa thế nào thì chúng ta cũng thế ấy trong thế gian này.

Tình yêu của Đức Chúa Trời là trọn vẹn, vì đó là bản tính của Ngài. Khi tình yêu của Đức Chúa Trời tuôn đổ trong chúng ta thì tình yêu ấy làm cho chúng ta trở nên trọn vẹn, vì tình yêu ấy khiến cho chúng ta được dựng nên mới giống như Thiên Chúa. Cũng vì chúng ta biết và tin vào tình yêu của Đức Chúa Trời mà chúng ta được lòng can đảm trong ngày phán xét. Vì chúng ta hiểu rằng, không phải chúng ta công bình hay tốt lành gì trước Chúa, mà là chính Chúa làm cho chúng ta được xưng công bình, bởi sự Chúa tha tội cho chúng ta, làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác, và tuôn đổ thánh linh của Ngài trong chúng ta, khiến cho chúng ta có năng lực sống thánh khiết bởi sự vâng giữ các điều răn của Chúa.

Chúa thế nào thì chúng ta cũng thế ấy trong thế gian này;” có nghĩa là chúng ta có năng lực để sống thánh khiết như Đức Chúa Jesus Christ đã sống trong thân vị của một con người trong thế gian. Bởi vì, trong Đức Chúa Jesus Christ, chúng ta đã được dựng thành một người mới giống như Thiên Chúa trong sự công bình và trong sự thánh sạch chân thật.

Lời của Chúa nhấn mạnh là chúng ta được dựng nên mới trong sự công bình, có nghĩa là bởi sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ mà chúng ta được tha tội một cách công chính, để Đức Chúa Trời có thể sinh chúng ta trở lại thành một người mới. Không ai có thể đem tội lỗi của chúng ta ra để ngăn cản chúng ta đón nhận tình yêu của Đức Chúa Trời. Chúng ta được dựng nên mới trong sự thánh sạch chân thật có nghĩa là chúng ta được dựng nên mới đúng theo tiêu chuẩn thánh khiết của Lời Chúa và nếp sống thánh của chúng ta là chân thật theo bản tính mới của chúng ta, chứ không phải là sự thánh sạch giả hình.

Giống như Chúa ngay khi chúng ta đang còn bước đi trong thế gian này có nghĩa là chúng ta vâng giữ trọn vẹn các điều răn của Đức Chúa Trời như Đức Chúa Jesus Christ đã vâng giữ. Chúng ta đã học trong I Giăng 2:3-6:

3 Và bởi điều này mà chúng ta biết mình đã biết Ngài: ấy là chúng ta giữ các điều răn của Ngài.

4 Ai nói: Tôi biết Ngài! Mà không giữ các điều răn của Ngài, là người nói dối, lẽ thật không ở trong người ấy.

5 Nhưng ai giữ lời Ngài, thì tình yêu của Đức Chúa Trời thật là trọn vẹn trong người ấy. Bởi đó, chúng ta biết chúng ta ở trong Ngài.

6 Ai nói mình ở trong Ngài, thì người ấy cũng phải bước đi như chính Ngài đã bước đi.

Bổn phận của chúng ta là tin vào tình yêu của Đức Chúa Trời và muốn sống thánh khiết. Còn việc làm của Đức Chúa Trời là chính Ngài sẽ thánh hóa chúng ta:

Trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ, để làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Ngài” (Ê-phê-sô 1:4).

A-men! Cảm tạ Đức Chúa Trời.

18 Chẳng có sự sợ hãi trong tình yêu, nhưng tình yêu trọn vẹn thì cất đi sự sợ hãi; vì sự sợ hãi có hình phạt. Ai sợ hãi thì không được trọn vẹn trong tình yêu.

Tình yêu trong thế gian cũng đem đến cho người được yêu sự vui mừng, thỏa lòng. Nhưng nếu người được yêu có lỗi với người yêu mình thì lập tức trở nên lo sợ, bất an.

Trong tình yêu của Đức Chúa Trời thì chúng ta không lo lắng, sợ hãi, vì chúng ta biết và tin rằng, Đức Chúa Trời luôn sẵn lòng tha thứ cho sự yếu đuối phạm tội của chúng ta, Đức Chúa Jesus Christ luôn sẵn sàng gánh thế hình phạt của tội lỗi cho chúng ta, và Đức Thánh Linh luôn sẵn sàng ban năng lực để phục hồi chúng ta. Đó là sự trọn vẹn của tình yêu của Đức Chúa Trời. Ngài yêu chúng ta bằng tình yêu trọn vẹn của Ngài. Ngài tuôn đổ tình yêu trọn vẹn của Ngài trong chúng ta để chúng ta cũng yêu lẫn nhau bằng tình yêu trọn vẹn. Vì thế, chúng ta không ngại ngần đến với nhau, xin lỗi nhau, khi lỡ có lỗi với nhau. Còn nếu chúng ta là người bị xúc phạm thì chúng ta luôn sẵn lòng tha thứ cho anh chị em của mình như Đức Chúa Trời vẫn luôn vui lòng tha thứ cho chúng ta. Chúng ta luôn sẵn sàng gánh lấy hậu quả việc lầm lỗi anh chị em đã gây ra cho mình. Và chúng ta luôn sẵn sàng nâng đỡ anh chị em của mình phục thiện.

19 Chúng ta yêu Ngài, vì Ngài đã yêu chúng ta trước.

Thật vậy, chúng ta chỉ có thể yêu Chúa sau khi chúng ta đã biết và tin vào tình yêu của Ngài đối với chúng ta. Ngài yêu chúng ta trước cũng có nghĩa là Ngài đã hy sinh cho chúng ta trước. Chúng ta yêu Ngài cũng có nghĩa là chúng ta sẵn lòng hy sinh mọi sự vì Ngài, chết vì Ngài, chết cho Ngài.

20 Nếu có ai nói rằng: Tôi yêu Đức Chúa Trời, mà lại ghét anh em mình, thì ấy là kẻ nói dối. Vì ai chẳng yêu anh em mình thấy, thì không thể yêu Đức Chúa Trời mình chẳng thấy được.

21 Chúng ta đã nhận nơi Ngài điều răn này: Ai yêu Đức Chúa Trời, thì cũng phải yêu anh em mình.

Sứ Đồ Giăng, bởi sự thần cảm của Đức Thánh Linh, đã dùng hai câu cuối cùng trong đoạn 4, để kết luận rằng: Điều răn của Chúa là con dân Chúa phải yêu lẫn nhau. Để nhìn biết một người có thật sự yêu Đức Chúa Trời hay không, thì chúng ta nhìn xem người ấy có ghét anh chị em trong Chúa hay không.

Điều này cũng áp dụng cho chính bản thân của chúng ta. Hãy xét lại lòng mình, xem mình có ghét anh chị em nào trong Chúa hay không?

Người nào ghét anh chị em trong Chúa thì người ấy vừa là kẻ nói dối vừa là kẻ giết người (I Giăng 3:15). Người ấy chắc chắn không thuộc về Đức Chúa Trời. Và nên nhớ, chính các hành động không tha thứ, không tiếp trợ, không cứu giúp anh chị em của mình… là bông trái của sự không yêu thương họ (Ma-thi-ơ 25:41-46).

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
24/01/2015

 

Share This:

Comments are closed.

2,027 views