580 views

Chú Giải I Tê-sa-lô-ni-ca 5:12-28

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla

Chú Giải I Tê-sa-lô-ni-ca 5:12-28
Nếp Sống Canh Giữ và Tỉnh Thức

  • Các câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là theo Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012: http://www.tt2012.thanhkinhvietngu.net/bible

  • Các chữ nằm trong hai dấu { } không có trong nguyên văn của Thánh Kinh, nhưng được hàm ý theo cấu trúc của văn phạm tiếng Hê-bơ-rơ và tiếng Hy-lạp.

  • Các chữ nằm trong hai dấu [ ] không có trong nguyên văn của Thánh Kinh, đó là chú thích của người dịch.

12 Hỡi các anh chị em cùng Cha! Chúng tôi nài xin các anh chị em hãy nhận biết những người lao nhọc ở giữa các anh chị em, là những người canh giữ các anh chị em trong Chúa, cảnh báo các anh chị em.

13 Hãy rất tôn trọng họ trong tình yêu vì cớ công việc họ làm. Hãy nên hòa thuận trong vòng các anh chị em.

14 Nhưng, hỡi các anh chị em cùng Cha! Chúng tôi nài xin các anh chị em hãy răn bảo những kẻ vô trật tự, an ủi những người ngã lòng, nâng đỡ những người yếu đuối, phải khoan nhẫn đối với mọi người. [Khoan nhẫn = khoan dung và nhẫn nại; tha thứ và bền lòng chịu đựng.]

15 Hãy giữ, đừng ai lấy ác báo ác cho ai; nhưng hãy theo đuổi điều thiện luôn luôn, cả trong vòng các anh chị em, lẫn đối với mọi người.

16 Hãy vui mừng mãi mãi!

17 Hãy cầu nguyện không thôi!

18 Trong mọi sự, hãy tạ ơn! Vì đó là ý muốn của Thiên Chúa trong Đấng Christ Jesus đối với các anh chị em.

19 Chớ giới hạn Đấng Thần Linh!

20 Chớ khinh dể những lời tiên tri!

21 Hãy xem xét mọi sự! Điều gì lành thì giữ lấy!

22 Hãy tránh mọi hình thức của sự ác!

23 Nhưng chính Đức Chúa Trời của sự bình an khiến các anh chị em nên thánh trọn vẹn. Tâm thần, linh hồn, và thân thể của các anh chị em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, cho sự đến của Đức Chúa Jesus Christ chúng ta!

24 Ngài {là} thành tín! Đấng đã kêu gọi các anh chị em. Ngài cũng sẽ làm điều ấy!

25 Hỡi các anh chị em cùng Cha! Hãy cầu nguyện cho chúng tôi!

26 Xin chào hết thảy các anh chị em cùng Cha bằng nụ hôn thánh!

27 Bởi Chúa, tôi truyền cho các anh chị em hãy đọc thư này cho hết thảy các anh chị em thánh cùng Cha.

28 Nguyện ân điển của Đức Chúa Jesus Christ chúng ta {ở} với các anh chị em. A-men!

Kính mời quý con dân Chúa dành thời gian nghe bài giảng này,
có nhiều thí dụ và giải thích chi tiết hơn là phần bài viết

 Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

 

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

 

 Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để nghe hoặc tải xuống mp3 bài giảng này:
OpenDrive: https://od.lk/f/MV8xNTYwNTE0MjJf
SoundCloud: https://soundcloud.com/huynh-christian-timothy/9052051-i-te-sa-lo-ni-ca-5_12-18
MediaFire: http://www.mediafire.com/file/gfd1xfh9dcdyb20/9052051_I_Tesalonica_5_12-28.mp3

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết pdf:
OpenDrive:  https://od.lk/fl/MV8xNjEzMzAzNV8
MediaFire:  https://www.mediafire.com/folder/u3amorru4ba4t/baigiang_pdf

Tiếp theo lời giãi bày về sự Chúa sẽ đến để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian, sự thân thể xác thịt của những người chết trong Chúa sẽ được sống lại trong ngày Chúa đến, thì Sứ Đồ Phao-lô đã kêu gọi con dân Chúa tại Tê-sa-lô-ni-ca hãy canh giữ và tỉnh thức chờ ngày Chúa đến. Rồi, ông kết thúc thư I Tê-sa-lô-ni-ca bằng lời khuyên dạy con dân Chúa thế nào là nếp sống canh giữ và tỉnh thức.

12 Hỡi các anh chị em cùng Cha! Chúng tôi nài xin các anh chị em hãy nhận biết những người lao nhọc ở giữa các anh chị em, là những người canh giữ các anh chị em trong Chúa, cảnh báo các anh chị em.

13 Hãy rất tôn trọng họ trong tình yêu vì cớ công việc họ làm. Hãy nên hòa thuận trong vòng các anh chị em.

Nếp sống canh giữ và tỉnh thức của con dân Chúa phải bắt đầu bằng sự nhận biết ai là người Chúa giao cho công việc chăm sóc Hội Thánh. Vì nếu không nhận biết ai là người chăn Chúa sắm sẵn cho mình thì thứ nhất là có thể bị kẻ chăn thuê, chăn giả dắt đi sai lạc và làm hại; thứ nhì là không được cho ăn thức ăn thật đến từ Lời Chúa.

Ngoại trừ một số ít trường hợp cá biệt, người nào đó ở một địa phương không có Hội Thánh, tức là không có hai hay ba người cùng là con cái Chúa, thì chính Chúa sẽ chăn dắt họ. Bất cứ nơi nào có Hội Thánh, cho dù chỉ là hai hay ba người, thì Chúa cũng vẫn dùng một người trong số họ để chăn dắt các người còn lại. Ngay trong kinh nghiệm của người thế gian, người xưa cũng biết là: Trong ba người cùng đi, đương nhiên có một người đáng làm thầy của ta [1]. 

Ngày nay, với sự tiến bộ của công nghệ vi tính và Liên Mạng Toàn Cầu (Internet), người chăn không còn bị giới hạn bởi không gian. Sẽ có nhiều người chê cười sự rao giảng Lời Chúa trên mạng, sự dùng Lời Chúa khuyên bảo, dẫn dắt, quở trách con dân Chúa trên mạng là “chăn chiên ảo”. Nhưng thực tế đã chứng minh cho thấy, Chúa đã đại dụng các phương tiện khoa học, kỹ thuật để đưa dắt biết bao nhiêu người đến với sự cứu rỗi của Chúa, nuôi dưỡng đức tin của biết bao nhiêu con dân Chúa. Riêng với các trang mạng do chúng tôi trực tiếp điều hành với số lượng hàng chục triệu lượt viếng thăm từ năm 2005 đến nay, chắc chắn đã giúp cho không ít những linh hồn khao khát Lời Chúa, tìm kiếm lẽ thật trong Lời Chúa.

Những người chăn chân thật là những người lao nhọc trong việc chăn dắt chiên của Chúa. Động từ lao nhọc trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh được dùng để chỉ việc lao động sản xuất đến mệt mỏi như một nông dân hay một công nhân, thậm chí như một người nô lệ. Họ không phải là những người do các giáo hội đào tạo để rao giảng những tư tưởng thần học và những điều răn nghịch Thánh Kinh của các giáo hội, hoặc theo ý riêng rao giảng những điều pha trộn giữa Lời Chúa và văn hóa của thế gian. Họ là những người lao nhọc trong sự đọc và suy ngẫm Lời Chúa ngày đêm để nhận biết các lẽ thật trong Lời Chúa, rồi giảng dạy cho con dân Chúa và hướng dẫn con dân Chúa cách thức áp dụng Lời Chúa vào trong cuộc sống. Họ không phải chỉ là những người rao giảng mà còn là những người sống theo Lời Chúa để làm gương cho cả bầy chiên (I Phi-e-rơ 5:3).

Động từ canh giữ trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh vừa có nghĩa cai trị vừa có nghĩa chăm sóc và bảo vệ. Những người chăn chân thật canh giữ con dân Chúa trong Chúa, tức trong danh Chúa, trong ý Chúa, trong đường lối của Chúa, được thể hiện qua Lời Chúa; chứ không phải canh giữ trong giáo hội hay canh giữ trong ý riêng của họ. Để có thể chăm sóc và bảo vệ cách hữu hiệu thì phải có thẩm quyền cai trị. Quyền cai trị của những người chăn là quyền dùng Lời Chúa để quở trách, sửa trị những người có lỗi trong Hội Thánh và quyền phân công cho con dân Chúa thi hành các mục vụ của Hội Thánh.

Ngoài việc cho chiên ăn đúng giờ, tức giảng dạy Lời Chúa cho con dân Chúa, là công việc hàng đầu, thì công việc quan trọng kế tiếp của những người chăn là cảnh báo con dân Chúa. Những người chăn cảnh báo con dân Chúa về những mưu kế của ma quỷ, về các tà giáo, về sự phạm lỗi, phạm tội của con dân Chúa, đồng thời cảnh báo con dân Chúa về sự Chúa sắp trở lại.

Chức vụ của những người chăn bầy đáng để cho con dân Chúa tôn trọng họ. Sự tôn trọng được thể hiện qua sự vâng phục thẩm quyền Chúa đã giao cho họ trên bầy chiên của Chúa, và đó phải là sự vâng phục trong tình yêu. Chúng ta đã học qua trong I Tê-sa-lô-ni-ca 3:1-13 về tình yêu của người rao giảng Lời Chúa đối với những ai tiếp nhận sự giảng dạy của họ. Tình yêu ấy xứng đáng được con dân Chúa đáp lại cũng bằng tình yêu. Chúa muốn con dân Chúa vâng phục Chúa vì yêu Chúa. Ngài cũng muốn con dân Chúa vâng phục những người chăn vì họ yêu những người chăn. Sự vâng phục ấy vừa khích lệ những người chăn vừa đem lại ích lợi cho con dân Chúa.

Hãy vâng lời những người dẫn dắt các anh chị em và chịu phục họ, vì họ thức canh về linh hồn của các anh chị em, như họ phải khai trình, để cho họ làm việc trong sự vui mừng, mà không phiền lòng, vì sự {phiền lòng} ấy chẳng ích lợi cho các anh chị em.” (Hê-bơ-rơ 13:17).

Sự vâng phục những người chăn là sự vâng phục thẩm quyền Chúa đặt để trong Hội Thánh và là sự vâng phục trong Chúa; nghĩa là chỉ vâng phục khi sự vâng phục ấy không nghịch lại Lời Chúa.

Kế tiếp là sự con dân Chúa phải sống hòa thuận với nhau. Sống hòa thuận với nhau là mỗi người vì mọi người, luôn luôn xem người khác là tôn trọng hơn mình, yêu nhau bằng tình yêu của Chúa, yêu nhau như chính mình được Chúa yêu, yêu nhau như yêu Chúa, vì mỗi người là chi thể của thân thể Chúa.

Từ câu 14 đến câu 22 là những điều con dân Chúa cần làm để có thể sống hòa thuận với nhau.

14 Nhưng, hỡi các anh chị em cùng Cha! Chúng tôi nài xin các anh chị em hãy răn bảo những kẻ vô trật tự, an ủi những người ngã lòng, nâng đỡ những người yếu đuối, phải khoan nhẫn đối với mọi người. [Khoan nhẫn = khoan dung và nhẫn nại; tha thứ và bền lòng chịu đựng.]

Trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh, “vô trật tự” là một tính từ dùng để chỉ những người lính vô kỷ luật, những kẻ vui chơi không điều độ, những kẻ không tuân thủ luật lệ. Những kẻ vô trật tự trong Hội Thánh là những con dân Chúa không tôn trọng các thẩm quyền, ham thích quá độ những thú vui trong thế gian, không vâng theo những quy tắc chung. Hội Thánh cần phải răn bảo những người như vậy.

Những người đức tin còn non yếu thì dễ ngã lòng khi đối diện với nghịch cảnh, thử thách, cám dỗ, và nhất là khi đối diện với sự bách hại đức tin hoặc sự phạm tội nghiêm trọng của ai đó trong Hội Thánh. Những người như vậy cần được an ủi, nâng đỡ. Tuy nhiên, Hội Thánh cần phân biệt những người thật sự yếu đuối trong đức tin với những kẻ cứng lòng, không chịu nhận lỗi, nhận tội, chỉ muốn Hội Thánh phải nuông chiều hay bỏ qua sự sai trái của họ. Những người thật sự yếu đuối trong đức tin thường là ít hiểu biết Lời Chúa, khi được giải thích thì vui mừng tiếp nhận ngay; còn những kẻ cứng lòng thì hay bẻ cong Lời Chúa để ngụy biện, che giấu tội lỗi của họ.

Con dân Chúa phải biết khoan dung và nhẫn nại đối với nhau. Khoan dung là sẵn lòng tha thứ nhưng không có nghĩa là không nói lên sự sai trái, tội lỗi của nhau. Tội lỗi lúc nào cũng phải được chỉ ra để người có tội nhận biết, ăn năn, và được tha thứ. Không thể có sự tha thứ khi không có sự thật lòng ăn năn. Lòng ăn năn chân thành chỉ nhận lỗi mà không tìm cách đổ lỗi. Nhẫn nại là cứ tiếp tục chịu đựng những khó khăn, đau đớn, mệt nhọc, và thường khi là những bất công cho đến lúc đạt được kết quả. Con dân Chúa phải nhẫn nại để giúp nhau trở nên giống như Chúa.

15 Hãy giữ, đừng ai lấy ác báo ác cho ai; nhưng hãy theo đuổi điều thiện luôn luôn, cả trong vòng các anh chị em, lẫn đối với mọi người.

Chữ mọi người trong câu này khác với chữ mọi người trong câu 14. Chữ mọi người trong câu 14 được giới hạn trong vòng các anh chị em cùng Cha. Chữ mọi người trong câu 15 bao gồm các anh chị em trong Hội Thánh lẫn những người ngoài Hội Thánh. Con dân Chúa không được lấy ác báo ác cho ai bất kể là người trong Hội Thánh hay ngoài Hội Thánh. Việc ác là bất cứ việc gì sai trái, nghịch lại Lời Chúa. Thí dụ:

  • Con dân Chúa không tìm cách đánh cắp tài sản của người đã đánh cắp của mình.

  • Con dân Chúa có quyền tự vệ khi bị kẻ ác tấn công, nhưng khi kẻ ác đã bị chế phục thì không được quyền đánh đập để trả thù.

Động từ “theo đuổi” trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh có nghĩa là chạy nhanh, rượt theo một người hay một vật để bắt lấy. Chữ “điều thiện” có nghĩa là điều chính trực, tốt lành, đáng tôn, đem lại sự vui mừng, thỏa lòng. Con dân Chúa phải theo đuổi điều thiện có nghĩa là luôn gắng sức làm ra những điều đẹp lòng Chúa, là những điều đúng với các điều răn và những lời khuyên bảo trong Thánh Kinh.

16 Hãy vui mừng mãi mãi!

Trong nguyên ngữ của Thánh Kinh, câu này chỉ có hai chữ: “vui mãi!” Chúng ta vui mừng khi được sự gì thỏa lòng. Những sự vui mừng trong thế gian không bền lâu. Nhưng một người có Chúa thì vui mãi, bất chấp hoàn cảnh sống ra sao. Trong đêm Đức Chúa Jesus được sinh ra, thiên sứ đã rao báo cho những người chăn chiên rằng:

Đừng sợ! Vì này, ta báo cho các ngươi một Tin Lành của một sự vui mừng lớn cho muôn dân.” (Lu-ca 2:10).

Vì thế, bất cứ ai tin nhận Tin Lành, tức là tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ, thì người ấy có sự vui mừng lớn ở trong người ấy cho đến đời đời. Thử hỏi, còn có sự vui mừng nào lớn hơn là sự vui mừng vì tội được tha, không còn bị hư mất đời đời trong hỏa ngục, được sống lại và sống đời đời, được ban cho địa vị làm con của Đức Chúa Trời, được ban cho cơ nghiệp của Đức Chúa Trời, được hiệp một và đồng trị với Đấng Christ, được ban cho năng lực để sống thánh khiết theo Lời Chúa, và được ban cho cơ hội để hầu việc Chúa? Bảy phương diện trên đây của sự vui mừng trong Chúa khiến cho người thật sự có Chúa luôn vui mừng trong mọi cảnh ngộ.

Chính vì thế mà Sứ Đồ Phao-lô đã viết ra những lời sau đây cho con dân Chúa tại thành Phi-líp:

Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn! Tôi lại còn nói nữa: Hãy vui mừng!” (Phi-líp 4:4).

Trong thực tế, các Hội Thánh trong xứ Ma-xê-đoan bao gồm Hội Thánh tại Tê-sa-lô-ni-ca và Phi-líp đều nổi tiếng về sự con dân Chúa biết vui mừng trong khi hoạn nạn, nghèo khó, đối diện với những sự bách hại, như Phao-lô đã xác nhận trong II Cô-rinh-tô 8:1-2.

Sự vui mừng của những người thật sự có Chúa không vì bất cứ một điều gì ở bên ngoài, mà vì chính sự hiện diện của Thiên Chúa trong họ, sự sống của Thiên Chúa tuôn trào trong họ và còn đến đời đời. Chính vì thế mà cũng không có bất cứ sự gì ở bên ngoài có thể dập tắt sự vui mừng của họ. Ngay cả khi họ bị đánh đập, sỉ nhục, tù đày, thậm chí bị giết chết vì danh Chúa, thì họ cũng vẫn vui mừng vì được kể là xứng đáng để chịu khổ vì danh Chúa (Ma-thi-ơ 5:11-12; Công Vụ Các Sứ Đồ 5:41).

17 Hãy cầu nguyện không thôi!

Trong nguyên ngữ của Thánh Kinh, câu này cũng chỉ có hai chữ, nhưng dịch sang tiếng Việt thì phải dùng bốn chữ: “cầu nguyện không thôi!” Động từ cầu nguyện bao gồm tất cả những sự con dân Chúa suy tưởng đến Chúa và thưa trình với Chúa: những sự tôn vinh, cảm tạ, tâm tình, thắc mắc, và cầu xin.

Sự cầu nguyện thể hiện qua lời nói trên môi miệng chỉ là một phần của sự cầu nguyện. Sự cầu nguyện phát xuất từ sự chúng ta tương giao với Chúa trong tâm thần. Vì thế, có những lúc chúng ta đang làm việc chúng ta vẫn có thể trò chuyện với Chúa trong tâm thần của mình. Thậm chí, đang khi ngủ, tâm thần của chúng ta vẫn tiếp tục tương giao, trò chuyện với Chúa. Cầu nguyện không phải chỉ là chúng ta nói Chúa nghe, mà còn là Chúa phán và chúng ta lắng nghe. Chúng ta có thể trò chuyện với Đức Chúa Trời là Cha ở trên trời của chúng ta bằng những lời tôn vinh, cảm tạ và cầu xin, kể cả những lời ăn năn, xưng tội. Chúng ta có thể tâm tình những vui buồn trong cuộc sống với Đức Chúa Jesus Christ, là Đấng đã chịu mọi cám dỗ trong thân thể xác thịt của một con người như chúng ta, xin Ngài thêm sức cho chúng ta. Chúng ta có thể nêu thắc mắc và xin Đức Thánh Linh chỉ dạy chúng ta ý nghĩa của Lời Chúa, cách thức áp dụng Lời Chúa vào trong cuộc sống, cách thức ứng xử với mọi người, mọi hoàn cảnh.

18 Trong mọi sự, hãy tạ ơn! Vì đó là ý muốn của Thiên Chúa trong Đấng Christ Jesus đối với các anh chị em.

Ý muốn của Thiên Chúa tức là ý muốn chung của Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh đối với chúng ta, được bày tỏ qua Đức Chúa Jesus Christ, là chúng ta tạ ơn Thiên Chúa trong mọi sự. Con dân Chúa tạ ơn trong mọi sự bởi vì:

Chúng ta biết rằng, mọi sự hiệp lại làm ích cho những ai yêu Đức Chúa Trời, tức là cho những người được gọi theo ý muốn Ngài đã định.” (Rô-ma 8:28).

Và bởi vì chúng ta được các lời hứa chắc chắn này:

Ta không có phán dặn ngươi sao? Hãy mạnh mẽ và can đảm, chớ run sợ cũng chớ ngã lòng. Vì Thiên Chúa Tự Hữu Hằng Hữu của ngươi vẫn ở cùng ngươi bất cứ nơi nào ngươi đi.” (Giô-suê 1:9).

Rô-ma 8:31-39

31 Vậy thì chúng ta sẽ nói làm sao về những sự này? Nếu Đức Chúa Trời vì chúng ta thì ai nghịch lại chúng ta?

32 Ngài đã không tiếc chính con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó con ấy cho, thì Ngài chẳng cũng sẽ ban mọi sự luôn với con ấy cho chúng ta sao?

33 Ai sẽ kiện những người được chọn của Thiên Chúa? Thiên Chúa là Đấng xưng công bình những người ấy.

34 Ai sẽ định tội họ? Đức Chúa Jesus Christ là Đấng đã chết nhưng cũng đã sống lại, là Đấng đang ngự bên phải Đức Chúa Trời, cầu thay cho chúng ta.

35 Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi tình yêu của Đấng Christ? Có phải hoạn nạn, khốn cùng, bách hại, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hay là gươm giáo chăng?

36 Như có chép rằng: Vì cớ Ngài, chúng tôi bị giết cả ngày. Chúng tôi bị xem như chiên bị làm thịt. [Thi Thiên 44:2]

37 Trái lại, trong mọi sự đó, chúng ta là những người chiến thắng qua Đấng yêu chúng ta.

38 Vì tôi chắc chắn rằng: sự chết, sự sống, các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, các quyền lực, những sự bây giờ, những sự sẽ đến,

39 bề cao, bề sâu, hoặc bất cứ một tạo vật nào, đều chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi tình yêu của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ Jesus, Chúa chúng ta.

Câu: “Ý muốn của Thiên Chúa trong Đấng Christ Jesus” có nghĩa là: cả Ba Ngôi Thiên Chúa đều cùng chung một ý muốn cho Hội Thánh và ý muốn ấy được thể hiện qua Đấng Christ là đầu của Hội Thánh. Cũng chính vì thế mà lời cảm tạ của chúng ta được dâng lên trong danh của Đức Chúa Jesus Christ.

19 Chớ giới hạn Đấng Thần Linh!

Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống dịch câu này là: “Chớ dập tắt thánh linh”. Trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh không có chữ “thánh” nhưng có mạo từ xác định, để chỉ Thiên Chúa trong thân vị “Đấng Thần Linh”. Khi Thánh Kinh dùng cách nói “Đấng Thần Linh” thì không chỉ về phương diện Thiên Chúa ngự trong chúng ta (được gọi là Đức Thánh Linh) mà nói đến Thiên Chúa trong thân vị Đấng Thần Linh hoạt động bên ngoài thân thể của chúng ta. Đấng Thần Linh cáo trách tội lỗi của thế gian và kêu gọi Hội Thánh ăn năn tội. Trong Khải Huyền đoạn 2 và 3, nói đến lời của Đấng Thần Linh phán với các Hội Thánh (Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống dịch là “Đức Thánh Linh”).

Từ ngữ “giới hạn” trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh là một động từ có nghĩa đen là: dập tắt; nghĩa bóng là: áp bức, đàn áp, giới hạn, ức chế.

Nếu là “thánh linh” của Chúa thì cách dịch “chớ dập tắt thánh linh” là đúng; nhưng vì là Đấng Thần Linh nên không thể dịch là “dập tắt” mà phải dịch là “giới hạn”. Chúng ta không thể dập tắt Đấng Thần Linh nhưng chúng ta có thể giới hạn sự làm việc của Đấng Thần Linh bằng cách không vâng phục Ngài.

Trở lại với lời của Đấng Thần Linh kêu gọi các Hội Thánh ăn năn trong Khải Huyền, nếu Hội Thánh nào nghe và vâng theo lời kêu gọi của Đấng Thần Linh thì Hội Thánh ấy không giới hạn công việc của Ngài. Hội Thánh ấy sẽ được phục hồi, được đầy dẫy thánh linh để kết quả tốt cho Đấng Christ. Nếu Hội Thánh nào không nghe hoặc nghe mà không vâng theo lời kêu gọi của Đấng Thần Linh, thì Hội Thánh ấy giới hạn những gì mà Đấng Thần Linh muốn làm ra trên Hội Thánh ấy.

Ngoài sự không ăn năn tội theo lời kêu gọi của Đấng Thần Linh, chúng ta cũng có thể giới hạn việc làm của Ngài khi chúng ta không dám mạnh dạn vâng theo những sự hướng dẫn của Ngài. Hãy tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra khi:

  • Chúng ta vì quá sợ hãi mà không dám theo sự thúc giục của Đấng Thần Linh để mở miệng đối đáp với những kẻ bắt bớ đức tin của chúng ta (Ma-thi-ơ 10:20)?

  • Phi-líp không vâng theo lời phán của Đấng Thần Linh để chạy theo xe của viên hoạn quan xứ Ê-thi-ô-bi (Công Vụ Các Sứ Đồ 8:29)?

  • Phi-e-rơ không vâng theo tiếng phán của Đấng Thần Linh để đi đến nhà Cọt-nây (Công Vụ Các Sứ Đồ 11:12)?

  • A-ga-bút không vâng theo Đấng Thần Linh, đứng lên nói tiên tri về sự đói kém (Công Vụ Các Sứ Đồ 11:28)?

  • Phao-lô và Ti-mô-thê không vâng theo tiếng phán của Đấng Thần Linh, cứ đi vào xứ A-si và Bi-thi-ni (Công Vụ Các Sứ Đồ 16:6-7)?

Không hoàn toàn vâng phục Đấng Thần Linh là giới hạn sự làm việc của Ngài trong Hội Thánh, trong thế gian. Nói cách khác I Tê-sa-lô-ni-ca 5:19 đồng nghĩa với: Hãy đầu phục Đấng Thần Linh!

20 Chớ khinh dể những lời tiên tri!

Những lời tiên tri là tất cả những lời nào trong Thánh Kinh báo trước về chương trình, ý định, việc làm của Thiên Chúa, hoặc những gì sẽ xảy ra trong thế gian do ma quỷ và loài người làm ra.

Chúng ta có những lời tiên tri về sự Thiên Chúa nhập thế làm người để cứu chuộc nhân loại ra khỏi sức mạnh và hậu quả của tội lỗi. Chúng ta có những lời tiên tri về sự thành bại của I-sơ-ra-ên và các quốc gia khác. Chúng ta có những lời tiên tri về sự Hội Thánh được thành lập, bị bách hại, nhưng vẫn đứng vững trong Đấng Christ. Chúng ta có những lời tiên tri về sự phạm tội ngày càng gia tăng trong những ngày cuối cùng. Chúng ta có những lời tiên tri về sự tận thế. Chúng ta có lời tiên tri về sự tiền định của Đức Chúa Trời cho những ai thuộc về Ngài và những ai không thuộc về Ngài. Và chúng ta có những lời tiên tri về vương quốc đời đời của Đức Chúa Trời trong trời mới đất mới. Đó là bảy phương diện về những lời tiên tri trong Thánh Kinh.

Ngoài ra, chúng ta cũng có những lời tiên tri từ một số anh chị em trong Hội Thánh địa phương, là những người thật sự sống nếp sống thánh sạch trong Chúa, được Chúa dùng để gây dựng Hội Thánh. Họ có thể được Chúa dùng để tiên tri một số điều Chúa sẽ làm ra trong Hội Thánh địa phương ấy, hoặc được Chúa dùng để cảnh báo Hội Thánh trước sự xâm nhập, phá hoại của ma quỷ. Tuy nhiên, sẽ không có chuyện Chúa dùng một tiên tri để thêm một điều gì vào Thánh Kinh. Tất cả những ai xưng rằng mình là tiên tri của Chúa, được Chúa sai để tiên tri một điều gì đó liên quan đến sự tận thế thì chắc chắn người ấy là tiên tri giả. Vì những gì Hội Thánh và nhân loại cần biết về sự tận thế đã được chính Đức Chúa Jesus Christ mạc khải cho Sứ Đồ Giăng, ghi chép trong sách Khải Huyền. Khải Huyền 22:18-19 nói rõ, ai thêm điều gì vào sách Khải Huyền thì kẻ ấy sẽ bị thêm tai nạn và ai bớt điều gì đã chép trong sách Khải Huyền thì kẻ ấy sẽ mất phần cây sự sống và thành thánh. Trong thực tế, có những người xưng mình là “thầy chăn” (mục sư) mà dám bớt toàn bộ sách Khải Huyền, vì không giảng sách Khải Huyền cho Hội Thánh.

Ngày nay, có rất nhiều người mạo nhận là tiên tri của Chúa. Chúng ta cần ghi nhớ các điều sau đây: Tất cả những lời tiên tri nào không có nền tảng từ Thánh Kinh thì không phải là lời tiên tri đến từ Chúa. Một người mà nếp sống không vâng giữ trọn vẹn các điều răn của Chúa thì không phải là tiên tri của Chúa. Một người rao giảng những điều nghịch lại Thánh Kinh thì không thể là tiên tri của Chúa. Một người viết các lời tiên tri thành sách bán lấy tiền thì không phải là tiên tri của Chúa.

Động từ “khinh dể” trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh có nghĩa là: xem thường, không quan tâm đến, không quý trọng, xem như không có. Khinh dể bất cứ một lời tiên tri nào cũng nặng tội hơn là khinh dể danh Chúa, vì Chúa đã làm cho Lời của Ngài được tôn cao hơn cả danh của Ngài (Thi Thiên 138:2).

21 Hãy xem xét mọi sự! Điều gì lành thì giữ lấy!

Động từ “xem xét” trong nguyên ngữ Hy-lạp có nghĩa là: thử nghiệm để chứng minh thực chất. Con dân Chúa phải xem xét mọi lời rao giảng xem có đúng Thánh Kinh hay không. Con dân Chúa phải xem xét nếp sống của những ai xưng mình là con dân Chúa xem họ có thật vâng giữ các điều răn của Chúa, là anh chị em cùng Cha với mình hay không. Con dân Chúa phải xem xét mọi chương trình, kế hoạch của cá nhân và của Hội Thánh xem có đúng là theo ý Chúa hay không. Con dân Chúa phải xem xét ý nghĩ, lời nói, việc làm của mình có làm tôn vinh danh Chúa hay không. Con dân Chúa phải xem xét những việc cứu giúp mình làm ra có đúng người, đúng cách, đúng việc hay không.

Điều lành là điều có ích lợi, có gây dựng, và vì sự vinh quang của Chúa (I Cô-rinh-tô 10:23, 31).

22 Hãy tránh mọi hình thức của sự ác!

Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống dịch câu này là: “Bất cứ điều gì tựa như điều ác thì phải tránh đi.” Nhưng nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh không nói “tựa như điều ác” mà nói là “mọi hình thức của sự ác”. Nghĩa là, cho dù sự ác có thể hiện ra dưới cái vỏ bọc tốt lành, như vỏ bọc của tình yêu, của lòng hiếu kính, thì con dân Chúa cũng phải tránh khỏi. Thí dụ:

  • Nhân danh tình yêu thương để bỏ qua, không quở trách sự sai trái, phạm tội của anh chị em mình để họ kịp thời ăn năn chính là một hình thức của sự ác, vì bỏ mặc cho anh chị em của mình chết trong tội.

  • Nhân danh lòng hiếu kính cha mẹ để quỳ lạy người chết, hình tượng cho cha mẹ vui lòng chính là một hình thức của sự ác, vì xem ý muốn của cha mẹ hơn ý muốn của Chúa.

  • Phạm lỗi, phạm tội mà tìm cách nói quanh để làm cho nhẹ tội hoặc để chối tội chính là một hình thức của sự ác, vì kiêu ngạo không chịu hạ mình nhận lỗi, nhận tội cách thật lòng.

Sự ác là bất cứ điều gì không đúng với Lời Chúa, nghịch lại sự yêu thương, thánh khiết, và công chính của Chúa. Lúc nào sự yêu thương, thánh khiết, và công chính cũng đi chung với nhau như ba cạnh của một hình tam giác. Trong yêu thương phải có sự thẳng thắn chỉ ra tội lỗi và phải có sự quở trách đúng mức.

23 Nhưng chính Đức Chúa Trời của sự bình an khiến các anh chị em nên thánh trọn vẹn. Tâm thần, linh hồn, và thân thể của các anh chị em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, cho sự đến của Đức Chúa Jesus Christ chúng ta!

Dù là bản thân mỗi con dân Chúa phải tự mình làm nên thánh (I Giăng 3:3) bằng cách vâng giữ các điều răn của Thiên Chúa, cũng như vâng theo những lời dạy từ câu 12 đến câu 22 trên đây, nhưng chỉ có Đức Chúa Trời của sự bình an mới là Đấng có quyền phép để làm cho họ được thánh sạch trọn vẹn.

Trong Các Quan Xét 6:23-24 ghi lại sự kiện Thiên Chúa hiện ra với Ghê-đê-ôn và ông lập một bàn thờ, đặt tên cho bàn thờ là: Đấng Tự Hữu Hằng Hữu Bình An. Đức Chúa Trời được gọi là Đức Chúa Trời của sự bình an là vì ý tưởng của Ngài đối với loài người là ý tưởng bình an, không phải tai họa (Giê-rê-mi 29:11). Cho dù loài người phạm tội, chống nghịch Ngài thì Ngài vẫn muốn cho mọi người được cứu rỗi và đến với tri thức về lẽ thật (I Ti-mô-thê 2:4). Ngay cả khi Ngài nhốt những người không chịu ăn năn tội vào trong hỏa ngục thì Ngài vẫn là Đức Chúa Trời của sự bình an, vì nhờ đó mà vương quốc của Ngài không bị xáo trộn vì những kẻ chống nghịch Ngài.

Chúng ta biết rõ, một chính quyền bình an là một chính quyền không gây chiến với nước khác, không để cho đời sống của dân trong nước bị rối loạn vì bất cứ lý do gì. Nhưng khi đất nước bị kẻ thù tấn công thì chính quyền ấy sẽ tham dự chiến tranh, khi có những kẻ xấu làm rối loạn trong nước thì chính quyền ấy sẽ nhốt những kẻ xấu vào nhà tù hoặc xử chết.

Chính vì thế mà trong Rô-ma 16:20 Phao-lô nói rằng, Đức Chúa Trời của sự bình an sẽ sớm giày đạp Sa-tan dưới chân của con dân Chúa tại Rô-ma.

Nên thánh trọn vẹn không có nghĩa là không còn phạm bất cứ một tội nào. Ngày nào chúng ta còn sống trong thân thể xác thịt yếu đuối, đang chết này, thì ngày ấy chúng ta vẫn còn có thể phạm tội. Nhưng nếu chúng ta không cố tình sống trong tội, không lạm dụng ân điển của Chúa để cứ tái phạm tội, nhất là tội tà dâm làm hại đến chính thân thể của mình, là đền thờ của Thiên Chúa, thì Đức Chúa Trời luôn tha thứ cho chúng ta khi chúng ta lỡ phạm tội mà thật lòng ăn năn và xưng nhận (I Giăng 1:9). Chính sự tha thứ của Đức Chúa Trời khiến cho chúng ta được nên thánh trọn vẹn.

Chỉ cần chúng ta có tấm lòng không muốn phạm tội, chỉ muốn sống thánh khiết theo Lời Chúa, thì chính Đức Chúa Trời sẽ khiến cho tâm thần, linh hồn, và thân thể của chúng ta không rơi vào sự cám dỗ. Hãy nhớ, ma quỷ luôn tìm cách cám dỗ chúng ta trên cả ba phương diện: Sự kiêu ngạo của tâm thần. Sự tham lam của linh hồn. Sự ưa thích bất chính của xác thịt.

Để có thể ở trong sự nên thánh trọn vẹn chúng ta phải luôn dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh lên Đức Chúa Trời (Rô-ma 12:1), luôn kêu cầu danh Chúa, xin Chúa cứu mình ra khỏi mọi sự cám dỗ (Rô-ma 10:13), luôn nhân danh Chúa xua đuổi mọi ý tưởng cám dỗ ra khỏi tâm trí của chúng ta cùng với các tà linh đang cám dỗ chúng ta (Mác 16:17). Chúng ta cũng phải giữ mình, không tự đặt vào hoàn cảnh, môi trường bị cám dỗ. Chúng ta phải luôn hướng về Chúa, không ngừng tương giao với Chúa trong tâm thần bằng cách suy ngẫm Lời Chúa ngày đêm và cẩn thận làm theo (Giô-suê 1:8).

Chỉ những ai nên thánh trọn vẹn mới có thể được gặp Chúa trong ngày Chúa hiện ra để đem Hội Thánh vào trong thiên đàng; vì nếu không nên thánh thì chẳng ai được thấy Chúa (Hê-bơ-rơ 12:14).

24 Ngài {là} thành tín! Đấng đã kêu gọi các anh chị em. Ngài cũng sẽ làm điều ấy!

Đức Chúa Trời là Đấng kêu gọi chúng ta (II Ti-mô-thê 1:9) và Ngài là Đấng thành tín, luôn làm thành những lời hứa của Ngài. Ngài kêu gọi chúng ta đến với sự cứu rỗi của Ngài:

Đấng Tự Hữu Hằng Hữu phán: Bây giờ, hãy đến và chúng ta hãy biện luận cùng nhau! Dù những tội của các ngươi như chỉ đỏ sậm, sẽ trở nên trắng như tuyết; dù chúng đỏ màu đỏ sậm, sẽ trở nên {trắng} như len.” (Ê-sai 1:18).

Và chính Ngài làm cho chúng ta nên thánh qua sự chuộc tội của Đấng Christ và qua lẽ thật là Lời Ngài (Giăng 17:17). Chúng ta phải tự chính mình lấy lòng kính sợ Đức Chúa Trời, ở lại trong sự thánh hóa Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta, để sự nên thánh của chúng ta cứ luôn được trọn vẹn (II Cô-rinh-tô 7:1), không bị tì vết vì sự phạm tội.

25 Hỡi các anh chị em cùng Cha! Hãy cầu nguyện cho chúng tôi!

Để kết thúc thư, Phao-lô kêu gọi con dân Chúa tại Tê-sa-lô-ni-ca hãy cầu nguyện cho ông và những người cùng hầu việc Chúa với ông, như Si-la, Ti-mô-thê, và Lu-ca. Những người rao giảng Tin Lành, giảng dạy Lời Chúa, chăn dắt con dân Chúa là những người rất cần sự cầu thay của con dân Chúa. Sa-tan luôn luôn tập trung toàn lực tấn công vào những người ấy trước. Trong binh pháp của loài người có câu: “Chặt đầu, dứt đoạn, diệt liên” là chiến thuật tiêu diệt người chỉ huy, phân rẽ binh sĩ, cắt đứt phương tiện liên lạc của quân địch để đạt chiến thắng. Sa-tan sẽ luôn áp dụng chiến thuật ấy để tấn công Hội Thánh.

26 Xin chào hết thảy các anh chị em cùng Cha bằng nụ hôn thánh!

Nụ hôn là dấu hiệu thể hiện tình yêu. Hôn một người là thể hiện tình yêu của mình dành cho người ấy. Nhận nụ hôn của một người là thể hiện mình chấp nhận tình yêu của người ấy. Dân Trung Đông và một phần Châu Âu thời xưa có phong tục hôn hai bên gò má của nhau để thể hiện tình cảm dành cho nhau. Con dân Chúa trong Hội Thánh ban đầu cũng có thói quen hôn lên má nhau như một cách chào khi gặp mặt và khi chia tay.

Nụ hôn thánh là nụ hôn không vì mục đích tìm kiếm cảm giác thỏa mãn tính dục, cũng không giả hình như nụ hôn của Giu-đa Ích-ca-ri-ốt dành cho Chúa. Phao-lô gửi nụ hôn thánh của ông như một lời chào đến con dân Chúa tại Tê-sa-lô-ni-ca.

Ngày nay, phong tục hôn để chào nhau chỉ còn sót lại trong một số con dân Chúa người Hy-lạp và người thuộc một số dân Trung Đông.

27 Bởi Chúa, tôi truyền cho các anh chị em hãy đọc thư này cho hết thảy các anh chị em thánh cùng Cha.

Chữ “truyền” trong câu 27 này, trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh có nghĩa là: giao cho trách nhiệm. Phao-lô trong danh Chúa, giao cho Hội Thánh tại Tê-sa-lô-ni-ca trách nhiệm phải đọc thư I Tê-sa-lô-ni-ca cho tất cả con dân Chúa trong Hội Thánh, để cho ai cũng được biết đến nội dung của thư.

Cách gọi: “các anh chị em thánh cùng Cha” có lẽ để nhấn mạnh đến sự con dân Chúa tại Tê-sa-lô-ni-ca đang ở trong tình trạng được nên thánh trọn vẹn, nghĩa là không một ai đang sống trong tội, không một ai có tội mà không ăn năn. Cách gọi này được dùng thêm một lần nữa trong Hê-bơ-rơ 3:1, sau khi nói đến sự con dân Chúa được thánh hóa bởi máu của Đức Chúa Jesus Christ trong đoạn 2. Dù thư Hê-bơ-rơ không ghi tên người viết, nhưng phần lớn các nhà giải kinh tin rằng, người viết cũng chính là Sứ Đồ Phao-lô.

28 Nguyện ân điển của Đức Chúa Jesus Christ chúng ta {ở} với các anh chị em. A-men!

Ân điển của Đức Chúa Jesus Christ là ơn thương xót của Ngài ban cho Hội Thánh trong sự Ngài hy sinh để cứu chuộc Hội Thánh. Ân điển của Đức Chúa Jesus Christ được định nghĩa qua Khải Huyền 1:5-6:

Đấng yêu chúng ta đã rửa sạch những tội lỗi của chúng ta trong máu Ngài, đã lập chúng ta {làm} những vua và những thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời và Cha của Ngài.”

Ân điển của Đức Chúa Jesus Christ không chỉ đến với chúng ta một lần mà theo chúng ta cho đến đời đời. Trong đời này, ân điển của Đức Chúa Jesus Christ giúp rửa sạch mọi tội của chúng ta. Trong đời sau ân điển của Đức Chúa Jesus Christ giúp chúng ta đồng trị với Ngài và vui hưởng sự sống đời đời trong vương quốc của Đức Chúa Trời.

Nguyện ân điển của Đức Chúa Jesus Christ ở với mỗi một chúng ta. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
24/06/2017

Ghi Chú

Karaoke: Hãy Tin Chúa Jesus Tình Yêu
http://thanhca.timhieutinlanh.net/karaoke-hay-tin-chua-jesus-tinh-yeu/

[1] Lời của Khổng Tử trong sách Luận Ngữ, chương Thuật Nhi: “Tam nhân hành, tất hữu ngã sư yên” 三人行, 必有我師焉

Share This:

Comments are closed.

580 views