635 views

Chú Giải Rô-ma 10:1-21

Roma_029 Sự Công Bình bởi Đức Tin – Sự Bội Nghịch của Dân I-sơ-ra-ên
(Rô-ma 10:1-21)

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla

Các câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là theo Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012. Xin xem chi tiết trong phần ghi chú ở cuối bài này.

1 Hỡi các anh chị em cùng Cha! Thật, ý tốt của lòng tôi và lời khẩn xin của tôi lên Đức Chúa Trời vì dân I-sơ-ra-ên, là cho họ được vào trong sự cứu rỗi.

2 Vì chính mình tôi làm chứng rằng, họ có lòng sốt sắng về Thiên Chúa, nhưng không phải theo sự tri thức.

3 Bởi họ không nhận biết sự công bình của Đức Chúa Trời và tìm cách lập sự công bình riêng của họ, không chịu phục sự công bình của Đức Chúa Trời.

4 Vì Đấng Christ {là} mục đích của luật pháp, {đem} mỗi một ai tin {Ngài} vào trong sự công bình.

5 Môi-se viết về sự công bình của luật pháp rằng: Người nào làm những sự ấy thì sẽ sống trong chúng. [Lê-vi Ký 18:5; Ê-xê-chi-ên 20:11]

6 Nhưng sự công bình bởi đức tin thì nói như thế này: Chớ nói trong lòng ngươi rằng, ai sẽ lên trên trời để đem Đấng Christ xuống?

7 Hay là: Ai sẽ xuống dưới vực sâu để đem Đấng Christ lên từ trong những kẻ chết?

8 Nhưng nó nói gì? Lời phán ở gần ngươi, trong miệng ngươi và trong lòng ngươi. Ấy là lời phán đức tin mà chúng ta rao giảng. [Phục Truyền Luật Lệ Ký 30:12-14]

9 Vậy, nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jesus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại từ những kẻ chết, thì ngươi sẽ được cứu.

10 Vì {bởi trong} lòng tin mà được sự công bình, và {bởi} miệng tuyên xưng mà được sự cứu rỗi.

11 Vì Thánh Kinh nói: Bất cứ ai tin Ngài sẽ chẳng bị hổ thẹn. [Ê-sai 28:16]

12 Vì không có sự khác biệt giữa người Do-thái và người Hy-lạp. Vì {Ngài} cùng {là} một Chúa của mọi {người}, {Ngài} giàu {ơn} đối với những ai kêu xin Ngài.

13 Vì hễ ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu. [Công Vụ Các Sứ Đồ 2:21; Giô-ên 2:28-32]

14 Nhưng làm sao họ kêu cầu Đấng mà họ chưa tin? Nhưng làm sao họ tin Đấng mà họ chưa nghe đến? Nhưng làm sao họ nghe khi không có người rao giảng?

15 Nhưng làm sao những người ấy rao giảng trừ khi họ được sai đi? Như có chép: Những bàn chân của những người rao truyền Tin Lành của Sự Bình An và Tin Lành của Sự Tốt Đẹp là xinh đẹp biết bao! [Ê-sai 52:7]

16 Nhưng chẳng phải mọi người đều vâng phục Tin Lành đâu; vì Ê-sai có nói: Lạy Chúa! Ai tin lời rao giảng của chúng tôi? [Ê-sai 53:1]

17 Như vậy, đức tin đến bởi sự nghe, {là} sự nghe tiếng phán của Thiên Chúa.

18 Nhưng tôi hỏi: Có phải là họ chưa nghe chăng? Trái lại, tiếng của những {sứ giả} đã vang khắp đất, và lời của những {sứ giả} đã đạt đến các nơi tận cùng của thế gian. [Thi Thiên 19:4]

19 Tôi lại hỏi: Dân I-sơ-ra-ên chẳng biết sao? Trước hết, Môi-se đã nói: Ta sẽ giục lòng ganh tị của các ngươi bởi {những kẻ} chẳng phải là một quốc gia. Ta sẽ chọc giận các ngươi bởi một quốc gia ngu dại. [Phục Truyền Luật Lệ Ký 32:21]

20 Và Ê-sai đã bạo dạn mà nói: Ta đã được tìm gặp bởi những kẻ chẳng tìm kiếm Ta! Ta đã được tỏ ra cho những kẻ chẳng cầu hỏi Ta! [Ê-sai 65:1]

21 Nhưng về dân I-sơ-ra-ên thì ông nói: Ta đã giơ tay ra cả ngày, hướng về dân tộc không vâng phục và hay nói nghịch. [Ê-sai 65:2]

Kính mời quý con dân Chúa dành thời gian nghe bài giảng này,
có nhiều thí dụ và giải thích chi tiết hơn là phần bài viết

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để nghe hoặc tải xuống mp3 bài giảng này:
OpenDrive:
https://od.lk/f/MV8xNjY5ODc1MjVf
SoundCloud: https://soundcloud.com/huynh-christian-timothy/11629-chugiairoma_10_1-21_sucongbinhboiductin
MediaFire: http://www.mediafire.com/file/9b6cc8ogon888q5/11629_ChuGiaiRoma_10_1-21SuCongBinhBoiDucTin.mp3

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết pdf:
Amazon Drive:
https://www.amazon.com/clouddrive/share/EERPUwTASJiTF0aRyt5inO35U3LZbPYs8qE7kOvo5oU
MediaFire: https://www.mediafire.com/folder/u3amorru4ba4t/baigiang_pdf
OpenDrive: https://od.lk/fl/MV8xNjEzMzAzNV8

Ngày Chúa đến đã quá gần. Kính xin quý con dân Chúa tích cực bằng mọi phương tiện, mọi cách phổ biến bài giảng này đến tất cả những con dân Chúa mình quen biết, để dự phần trong việc gây dựng lẫn nhau trong Hội Thánh, giúp nhau sống đúng theo Lời Chúa, sẵn sàng cho sự đến của Đức Chúa Jesus Christ. Xin cám ơn quý con dân Chúa. (Xin đọc bài này: http://www.timhieutinlanh.net/trach-nhiem-cua-con-dan-chua-khi-pho-bien-hoac-khong-pho-bien-mot-bai-giang/).

Phao-lô là một sứ đồ của Đức Chúa Jesus Christ, được Ngài giao cho nhiệm vụ rao truyền danh của Ngài trước các dân ngoại, các vua, và dân tộc I-sơ-ra-ên (Công Vụ Các Sứ Đồ 9:15). Nói cách khác, Phao-lô được Chúa giao cho nhiệm vụ giảng Tin Lành cho mọi người, mọi giai cấp trong muôn dân. Và Phao-lô thật đã rao giảng Tin Lành cho từ một người nô lệ trốn chủ đến các tổng đốc La-mã đầy uy quyền; từ các trưởng lão trong Hội Đồng Công Luận của người I-sơ-ra-ên cho đến giới trí thức của người Hy-lạp; từ Vua Ạc-ríp-ba của dân I-sơ-ra-ên cho đến Hoàng Đế Nê-rô của La-mã; và qua các lá thư của ông, Phao-lô đã rao giảng Tin Lành đến hàng tỷ người trên trái đất trong suốt gần hai ngàn năm qua! Tuy nhiên, Phao-lô là một người I-sơ-ra-ên, nên ông rất nặng lòng về sự vấp phạm của dân I-sơ-ra-ên và sự họ tiếp tục bội nghịch Thiên Chúa.

Sự vấp phạm của dân I-sơ-ra-ên đến từ chỗ họ chỉ tin nhận Chúa theo lý trí, tỏ ra vâng phục Chúa theo các hình thức lễ nghi bên ngoài, mà trong thần trí của họ không có sự vâng phục Chúa, như chính Chúa đã phán về họ:

Dân này lấy miệng của chúng đến gần Ta, lấy môi tôn kính Ta; nhưng lòng của chúng nó thì xa cách Ta! Chúng nó thờ lạy Ta cách vô ích, giảng dạy giáo lý về các điều răn của loài người.” (Ma-thi-ơ 15:8-9, đối chiếu Ê-sai 29:13).

Vì thế, họ đã không thể chấp nhận những lời rao giảng và kêu gọi ăn năn của Đức Chúa Jesus Christ, và họ trở thành bội nghịch Chúa.

Các giáo hội mang danh Chúa từ Công Giáo, Chính Thống Giáo, cho đến các giáo phái Tin Lành cũng đều vấp phạm và bội nghịch như dân I-sơ-ra-ên thuộc thể [1]. Trong bài này chúng ta học về sự bội nghịch của dân I-sơ-ra-ên nhưng cũng là học về sự bội nghịch của các tổ chức giáo hội mang danh Chúa. Tất cả những ai đang thờ lạy Chúa bằng các điều răn của loài người trong các giáo hội sẽ tự mình chịu trách nhiệm cho sự ngu dại của mình. Vì Lời Hằng Sống của Thiên Chúa đã được ghi chép rõ ràng trong Thánh Kinh và trao vào trong tay của họ, mà họ không đọc, không suy ngẫm ngày đêm để cẩn thận làm theo (Giô-suê 1:8).

1 Hỡi các anh chị em cùng Cha! Thật, ý tốt của lòng tôi và lời khẩn xin của tôi lên Đức Chúa Trời vì dân I-sơ-ra-ên, là cho họ được vào trong sự cứu rỗi.

Đây là lời tâm tình của Phao-lô với con dân Chúa tại thành Rô-ma, phần lớn là những người thuộc các dân ngoại, không phải là dân I-sơ-ra-ên. Nhưng họ đã trở thành những anh chị em cùng một Cha ở trên trời với Phao-lô, vì họ đã có cùng một đức tin với ông vào Tin Lành Cứu Rỗi của Đức Chúa Trời. Trong khi những người I-sơ-ra-ên không tin nhận Tin Lành thì đang bị hư mất! Phao-lô nói với con dân Chúa tại thành Rô-ma một cách quả quyết rằng, ý tốt của lòng ông đối với dân I-sơ-ra-ên và lời ông cầu thay cho họ với Đức Chúa Trời là muốn cho họ được sự cứu rỗi.

Chúng ta cần học tập Phao-lô để có ý tốt và lời cầu thay cho dân tộc Việt Nam được sự cứu rỗi. Chúng ta chỉ có thể có ý tốt và lời cầu thay cho dân tộc Việt Nam khi chúng ta yêu thương dân tộc Việt Nam và đau lòng khi nghĩ đến thực trạng phần lớn người Việt Nam đang đi vào sự hư mất đời đời, vì họ không tin nhận Tin Lành.

Dù chúng ta có cầu thay cho dân tộc Việt Nam hay không thì Đức Chúa Trời cũng thương xót dân tộc Việt Nam, ban cho dân Việt Nam nhiều cơ hội để được biết đến Tin Lành Cứu Rỗi. Thực tế, Đức Chúa Trời đã thiết lập Hội Thánh của Ngài giữa lòng dân tộc Việt Nam, dùng Hội Thánh rao giảng Tin Lành bằng tiếng Việt cho dân tộc Việt Nam, ban cho dân tộc Việt Nam cơ hội được đọc và suy ngẫm Lời của Ngài là Thánh Kinh. Nhưng nếu chúng ta sốt sắng cầu thay cho dân tộc Việt Nam thì Đức Chúa Trời sẽ vì lời cầu thay của chúng ta mà ban thêm nhiều cơ hội cho dân tộc Việt Nam. Đồng thời, sự cầu thay của chúng ta cũng chính là một trong những việc lành được làm ra trong danh Chúa, mà Ngài sẽ ban thưởng cho chúng ta.

2 Vì chính mình tôi làm chứng rằng, họ có lòng sốt sắng về Thiên Chúa, nhưng không phải theo sự tri thức.

Phao-lô vốn xuất thân từ giáo phái Pha-ri-si là một giáo phái có lòng sốt sắng nhất của Do-thái Giáo, cho nên, ông biết rõ sự sốt sắng về Thiên Chúa của người I-sơ-ra-ên. Nhưng tiếc thay, sự sốt sắng ấy chỉ theo lý trí, và theo hình thức lễ nghi bên ngoài, theo những truyền thống tôn giáo do loài người đặt ra, mà không theo sự tri thức, là sự hiểu biết được ban cho bởi Đức Chúa Trời trong tâm thần. Thay vì hết lòng thờ phượng Thiên Chúa theo sự Đức Chúa Trời bày tỏ trong thần trí qua Thánh Kinh, thì họ sốt sắng vâng giữ các điều răn do loài người lập ra, vâng giữ các nghi thức truyền thống không có trong Lời Chúa.

Các tôn giáo mang danh Chúa ngày nay cũng vậy. Hàng năm họ tổ chức linh đình các lễ Christmas, Lễ Easter, Mùa Chay, Lễ Tro, Lễ Lá… là những nghi thức và truyền thống hoàn toàn không có trong Thánh Kinh, lại pha trộn đầy những sự mê tín dị đoan, những hủ tục tôn vinh tà thần [2], [3], [4].

3 Bởi họ không nhận biết sự công bình của Đức Chúa Trời và tìm cách lập sự công bình riêng của họ, không chịu phục sự công bình của Đức Chúa Trời.

Sự công bình của Đức Chúa Trời là: Tội lỗi phải bị hình phạt. Hình phạt của tội lỗi là sự chết: Sự chết trong đời này của thân thể xác thịt khi thân thể của xác thịt bị phân rẽ khỏi tâm thần và linh hồn, và sự chết trong đời sau khi thân thể xác thịt được sống lại và cùng với linh hồn bị phân rẽ đời đời khỏi Thiên Chúa. Nhưng sự công bình của Đức Chúa Trời cũng là: Khi hình phạt tội lỗi của một người được người khác vui lòng tình nguyện gánh thay, thì người có tội được tha thứ. Và sau cùng, sự công bình của Đức Chúa Trời là: Ngài tái sinh những ai tin nhận Tin Lành Cứu Rỗi của Ngài, dựng họ thành một người mới giống như Thiên Chúa trong sự công bình và thánh sạch cách chân thật, nhờ đó, họ có năng lực giữ trọn các điều răn của Ngài.

Người I-sơ-ra-ên cũng như những người theo tôn giáo trong các tôn giáo mang danh Chúa không hiểu rằng:

  • Chỉ cần một lần vi phạm một trong các điều răn của Đức Chúa Trời thì đã đủ để bị hư mất đời đời.

  • Sự vi phạm điều răn của Đức Chúa Trời bắt đầu từ trong ý tưởng. Chỉ cần lòng của một người có ý muốn không vâng theo điều răn của Đức Chúa Trời thì người ấy đã vi phạm điều răn của Ngài.

  • Không ai có thể giữ trọn vẹn các điều răn của Đức Chúa Trời, cho dù một số người có thể giữ theo hình thức bên ngoài, nhưng trong lòng họ vẫn vi phạm. Vì bản tính ưa phạm tội ở trong loài người.

  • Tế lễ chuộc tội là hình bóng cho sự Thiên Chúa sẽ mang lấy hình thể loài người, gánh thay án phạt tội lỗi cho loài người, để loài người được tha tội.

  • Như vậy, để được tha tội, được xưng là công bình, tức là vô tội, bởi Đức Chúa Trời thì một người phải tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ.

  • Một người phải chịu chết đi con người cũ bằng cách thật lòng gớm ghét tội, từ bỏ tội, để được Đức Chúa Trời tái sinh thành một người mới trong Đức Chúa Jesus Christ.

  • Người được Đức Chúa Trời tái sinh là người được dựng nên mới với bản tính công bình và thánh khiết cách chân thật như Thiên Chúa. Nhờ đó, người ấy mới có thể vâng giữ trọn vẹn các điều răn của Đức Chúa Trời.

Những người I-sơ-ra-ên cũng như những người ở trong các giáo hội mang danh Chúa nghĩ rằng, chỉ cần họ siêng năng, sốt sắng dâng hiến, làm các việc lành, thi hành các nghi thức tôn giáo, vâng giữ các điều răn do các giáo hội đặt ra… thì họ trở thành những người công bình. Vì thế họ không tiếp nhận sự công bình của Đức Chúa Trời mà Đức Chúa Jesus Christ đã làm ra cho họ.

4 Vì Đấng Christ {là} mục đích của luật pháp, {đem} mỗi một ai tin {Ngài} vào trong sự công bình.

Chúng ta cần chú ý, trong câu này không nói: “Vì Đức Chúa Jesus là mục đích của luật pháp” nhưng nói: “Vì Đấng Christ là mục đích của luật pháp”.

Trong khi Đức Chúa Jesus là Thiên Chúa Ngôi Lời nhập thế làm người để thi hành sự cứu chuộc loài người, thì danh hiệu Christ của Ngài nói lên những gì Ngài đã, đang, và sẽ làm cho loài người, đặc biệt, cho những ai tin nhận Ngài. Danh từ Christ theo nghĩa đen có nghĩa là người được xức dầu, theo nghĩa bóng là người được Đức Chúa Trời chọn và giao cho các nhiệm vụ. Trong Thánh Kinh chỉ có ba nhiệm vụ được xức dầu:

  • Nhiệm vụ thầy tế lễ làm công việc thay mặt con dân Chúa dâng tế lễ lên Đức Chúa Trời và cầu thay cho con dân Chúa.

  • Nhiệm vụ tiên tri làm công việc rao giảng Lời Chúa cho con dân Chúa.

  • Nhiệm vụ vua làm công việc cai trị và dẫn dắt con dân Chúa.

Trong chức vụ thầy tế lễ, Đức Chúa Jesus Christ đã dâng chính thân thể mình làm của lễ chuộc tội cho loài người và Ngài tiếp tục cầu thay cho những ai tin nhận sự chết chuộc tội của Ngài.

Trong chức vụ tiên tri, Đức Chúa Jesus đã giãi bày về Đức Chúa Trời và sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, chương trình và ý định của Đức Chúa Trời, cho loài người.

Trong chức vụ vua, Đức Chúa Jesus đang cai trị Hội Thánh và sẽ cai trị Vương Quốc Ngàn Năm cùng Vương Quốc Đời Đời. Ngài sẽ phán xét dân I-sơ-ra-ên lẫn thế gian trong Kỳ Tận Thế, và phán xét tất cả những ai không vâng phục Thiên Chúa trong kỳ phán xét chung cuộc.

Mục đích của luật pháp hay sự cuối cùng của luật pháp là hướng loài người về Đấng Christ và mọi việc làm của Ngài. Vì mọi việc làm của Đấng Christ làm trọn sự đòi hỏi của bản tính Thiên Chúa về tình yêu, sự thánh khiết, và sự công chính. Về tình yêu, Thiên Chúa yêu loài người và ban cho loài người cơ hội được tha tội, được làm cho sạch tội, được sống đời đời trong hạnh phúc với Thiên Chúa. Về sự thánh khiết, Thiên Chúa hoàn toàn không chấp nhận tội lỗi nên Ngài nghiêm khắc lên án tội lỗi. Về sự công chính, Thiên Chúa nghiêm khắc hình phạt tội nhân về mỗi một tội lỗi họ làm ra.

Những ai tin nhận sự chết chuộc tội của Đấng Christ thì được Đấng Christ mang họ vào trong sự công bình, nghĩa là vào trong sự được tha tội, được làm cho sạch tội, và được ban cho năng lực để hoàn toàn vâng phục Đức Chúa Trời, không vi phạm các điều răn của Ngài.

5 Môi-se viết về sự công bình của luật pháp rằng: Người nào làm những sự ấy thì sẽ sống trong chúng. [Lê-vi Ký 18:5; Ê-xê-chi-ên 20:11]

Luật pháp được nói đến ở đây là luật pháp của Đức Chúa Trời như đã được Môi-se ghi chép, là những quy định của Đức Chúa Trời về cách thức mà loài người sống và thờ phượng Thiên Chúa. Nếu ai hết lòng làm theo những quy định ấy một cách trọn vẹn thì người ấy luôn được sống trong sự thánh khiết của luật pháp. Chính Đức Chúa Jesus Christ cũng đã công bố:

Nếu ngươi muốn vào trong sự sống, thì hãy giữ các điều răn.” (Ma-thi-ơ 19:17b).

Tuy nhiên, trong thực tế không một người nào có thể bởi sức riêng của mình mà giữ trọn luật pháp của Đức Chúa Trời. Thánh Kinh nói rõ: “mọi người đều đã phạm tội” (Rô-ma 3:23; 5:12). Vì thế, không ai có thể bởi sự vâng giữ luật pháp của Đức Chúa Trời mà được xưng công bình. Trái lại, luật pháp của Đức Chúa Trời chỉ ra sự sai trái của mỗi người và lên án phạt mỗi sự sai trái ấy.

6 Nhưng sự công bình bởi đức tin thì nói như thế này: Chớ nói trong lòng ngươi rằng, ai sẽ lên trên trời để đem Đấng Christ xuống?

7 Hay là: Ai sẽ xuống dưới vực sâu để đem Đấng Christ lên từ trong những kẻ chết?

8 Nhưng nó nói gì? Lời phán ở gần ngươi, trong miệng ngươi và trong lòng ngươi. Ấy là lời phán đức tin mà chúng ta rao giảng. [Phục Truyền Luật Lệ Ký 30:12-14]

Đại danh từ “ngươi” trong câu 6, câu 8, và câu 9 là chỉ chung mọi người.

Sự công bình bởi đức tin là sự công bình mà một người có được, khi người ấy thật lòng ăn năn tội và tin rằng, Thiên Chúa đã nhập thế làm người, chịu chết thay cho tội lỗi của loài người và đã sống lại từ trong những kẻ chết.

Sự công bình bởi đức tin chỉ tin mà không lý luận rằng: Vì sao mà Thiên Chúa có thể nhập thế thành người để chịu chết cho nhân loại. Cũng không lý luận rằng: Vì sao mà Đấng Christ có thể ra khỏi âm phủ, phục sinh từ trong những kẻ chết?

Sự công bình bởi đức tin giúp cho những ai có lòng tìm kiếm Đức Chúa Trời và sự cứu rỗi của Ngài hiểu và tin mọi lời phán dạy của Đức Chúa Jesus Christ về Tin Lành của Vương Quốc Trời.

Danh từ “lời phán” trong câu 8 chỉ về những lời rao giảng về Tin Lành của Đấng Christ, được các sứ đồ nhắc lại, và được Đức Thánh Linh giãi bày trong tâm thần của những người nghe.

Lời phán ở gần mọi người qua hình thức được ghi chép lại trong Thánh Kinh, phân phát đến mọi người và được con dân Chúa rao giảng. Lời phán ở trong miệng mọi người khi mọi người đọc Thánh Kinh và đọc các bài giảng Thánh Kinh. Lời phán ở trong lòng mọi người khi mọi người suy ngẫm Thánh Kinh và suy ngẫm về các bài giảng Thánh Kinh.

9 Vậy, nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jesus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại từ những kẻ chết, thì ngươi sẽ được cứu.

Miệng xưng Đức Chúa Jesus ra là cất tiếng xưng nhận: Đức Chúa Jesus là Đấng Christ (tiên tri, thầy tế lễ, và vua), là Con của Đức Chúa Trời Hằng Sống, là Thiên Chúa nhập thế làm người để chết thay cho nhân loại (Ma-thi-ơ 16:16; Giăng 1:1-14; Rô-ma 5:8).

Lòng tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Đức Chúa Jesus sống lại từ những kẻ chết là tin rằng: Đức Chúa Jesus thật sự đã chết vì tội lỗi của nhân loại, nhưng thân thể xác thịt của Ngài đã thật sự sống lại bởi ý muốn của Đức Chúa Trời.

Được cứu có nghĩa là: Được Đức Chúa Trời tha tội, được Đức Chúa Jesus làm cho sạch tội, được Đức Thánh Linh ban cho năng lực của Thiên Chúa, mà thoát khỏi sức mạnh của tội lỗi, thoát khỏi án phạt của tội lỗi, và có thể vâng giữ trọn vẹn luật pháp của Đức Chúa Trời.

10 Vì {bởi trong} lòng tin mà được sự công bình, và {bởi} miệng tuyên xưng mà được sự cứu rỗi.

Đức tin có nghĩa là: Trong lòng tin và nhận một điều gì đó là sự thật mà không cần phải lý luận hoặc nhìn thấy chứng cớ. Đức tin phải được thể hiện thành hành động, là: Công bố điều mình tin và sống theo điều mình tin.

Thật lòng tin nhận Tin Lành giúp cho chúng ta được xưng công bình, nghĩa là được tha tội. Nhưng để được rửa cho sạch bản chất tội và nhận được thánh linh của Thiên Chúa, tức là được tái sinh, thì chúng ta phải tuyên xưng đức tin, nghĩa là phải thưa với Chúa về đức tin của mình. Sự tuyên xưng đức tin này còn được gọi là: Cầu nguyện tin nhận Chúa!

11 Vì Thánh Kinh nói: Bất cứ ai tin Ngài sẽ chẳng bị hổ thẹn. [Ê-sai 28:16]

Phao-lô trích dẫn lời phán của Thiên Chúa do Tiên Tri Ê-sai ghi lại. Tương tự như vậy, Sứ Đồ Phi-e-rơ cũng trích dẫn cùng một câu trong I Phi-e-rơ 2:6.

Ê-sai 28:16 chép “… ai tin sẽ chẳng nên vội vàng”. Hàm ý, người có đức tin nơi Thiên Chúa thì không cần phải hấp tấp, vội vàng, khi đối diện với những nan đề trong cuộc sống, mà cứ yên tâm chờ đợi Thiên Chúa sẽ làm thành những lời hứa của Ngài, người ấy chắc chắn sẽ không bị hổ thẹn.

12 Vì không có sự khác biệt giữa người Do-thái và người Hy-lạp. Vì {Ngài} cùng {là} một Chúa của mọi {người}, {Ngài} giàu {ơn} đối với những ai kêu xin Ngài.

13 Vì hễ ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu. [Công Vụ Các Sứ Đồ 2:21; Giô-ên 2:28-32]

Trong Thánh Kinh, người Do-thái là dân tộc được Đức Chúa Trời chọn để qua đó bày tỏ chính Ngài và ơn cứu rỗi của Ngài cho loài người, người Hy-lạp tiêu biểu cho tất cả các dân tộc khác. Sự công bình bởi đức tin là ân điển của Đức Chúa Trời ban cho toàn thể loài người, không phân biệt chủng tộc. Đức Chúa Jesus là Chúa của người Do-thái mà cũng là Chúa của mọi người trong các dân tộc khác. Vấn đề là mỗi người có tin nhận Ngài hay không. Đối với tất cả những ai tin nhận Ngài và kêu cầu danh Ngài thì Ngài ban ơn cho họ cách dư dật. Tất cả những ai thật lòng tin nhận Ngài và kêu cầu danh Ngài thì sẽ được cứu:

  • Được cứu khỏi án phạt của tội lỗi.

  • Được cứu khỏi quyền lực của tội lỗi.

  • Được cứu khỏi sự cám dỗ.

  • Được cứu khỏi sự quấy phá của ma quỷ.

  • Được cứu khỏi sự bách hại của thế gian.

  • Được cứu khỏi sự nghèo khó vật chất trong cuộc sống.

  • Được cứu khỏi hoạn nạn, thiên tai, dịch bệnh.

Danh Chúa mà chúng ta kêu cầu chính là danh Đức Chúa Jesus Christ, và dưới trời không có danh nào khác ban cho chúng ta, để chúng ta nhờ đó mà được cứu (Công Vụ Các Sứ Đồ 4:8-12).

14 Nhưng làm sao họ kêu cầu Đấng mà họ chưa tin? Nhưng làm sao họ tin Đấng mà họ chưa nghe đến? Nhưng làm sao họ nghe khi không có người rao giảng?

15 Nhưng làm sao những người ấy rao giảng trừ khi họ được sai đi? Như có chép: Những bàn chân của những người rao truyền Tin Lành của Sự Bình An và Tin Lành của Sự Tốt Đẹp là xinh đẹp biết bao! [Ê-sai 52:7]

Để có thể kêu cầu danh Chúa và được cứu thì trước hết, một người phải tin nhận Chúa. Nhưng muốn tin nhận Chúa thì phải được nghe rao giảng về Ngài. Mà muốn được nghe rao giảng về Ngài thì phải có người rao giảng.

Để có người rao giảng thì những người rao giảng phải được sai đi. Chính vì vậy mà thiên chức của những người rao giảng rất là thiêng liêng và cao trọng. Ê-phê-sô 4:11 cho chúng ta biết, chính Đức Chúa Jesus Christ giao cho một số người trong Hội Thánh chuyên về công việc rao giảng Tin Lành.

Tin Lành được gọi là Tin Lành của Sự Bình An vì ai tin nhận Tin Lành thì nhận được sự bình an của Đức Chúa Jesus Christ (Giăng 14:27). Bình an vì được tha tội, được thoát khỏi hình phạt của tội lỗi, được làm cho sạch bản tính tội, được ban cho thánh linh để sống nếp sống mới thánh khiết, đắc thắng tội lỗi, và được lời hứa về sự sống đời đời trong Vương Quốc Trời.

Tin Lành được gọi là Tin Lành của Sự Tốt Đẹp vì ai tin nhận Tin Lành thì sẽ nhận lãnh được tất cả những điều tốt đẹp của Thiên Chúa, gọi chung là cơ nghiệp của Đức Chúa Trời (I Phi-e-rơ 1:3-4; Khải Huyền 21:1-7.

Vì sự rao giảng Tin Lành khiến cho nhiều người tin nhận Tin Lành được bình an và được hưởng mọi sự tốt đẹp của Thiên Chúa, mà Lời Chúa ca ngợi bàn chân của những người đi khắp nơi rao giảng Tin Lành là vô cùng xinh đẹp!

Ma-thi-ơ 9:36-38 ghi lại sự cảm xúc và lời phán của Đức Chúa Jesus Christ, như sau:

Khi Ngài thấy những đám dân đông, thì Ngài động lòng thương xót họ, vì họ mệt mỏi và bị tan lạc như chiên không có người chăn. Rồi, Ngài phán với các môn đồ: Mùa gặt thì thật trúng, nhưng người làm thì ít. Vậy, các ngươi hãy cầu xin Chúa của mùa gặt rằng, Ngài sẽ sai những người làm vào trong mùa gặt của Ngài.”

Cảm xúc và lời phán của Đức Chúa Jesus Christ đã nói lên thực trạng thế gian cần có nhiều người rao giảng Tin Lành, và Hội Thánh cần phải cầu nguyện xin Đức Chúa Trời sai thêm nhiều người dấn thân vào chức vụ rao giảng Tin Lành. Chúng ta cần ghi nhớ điều này: Đức Chúa Trời luôn ban cho loài người quyền tự do lựa chọn. Ngay cả khi chúng ta đã ở trong Hội Thánh của Ngài thì Ngài cũng vẫn ban cho chúng ta quyền tự do lựa chọn. Con dân Chúa có quyền tự do chọn cầu xin Chúa sai thêm người rao giảng Tin Lành, và cũng có quyền tự do chọn sẽ đáp lại sự kêu gọi của Chúa để làm người rao giảng Tin Lành.

Thế gian lúc nào cũng cần có nhiều người rao giảng Tin Lành. Hội Thánh cần cầu xin Đức Chúa Trời sai thêm người. Nhưng con dân Chúa cũng phải biết noi gương của Tiên Tri Ê-sai mà đáp lại lời kêu gọi của Đức Chúa Trời:

Kế đó, tôi nghe tiếng Chúa phán rằng: Ta sẽ sai ai đi? Ai sẽ đi cho Chúng Ta? Tôi thưa rằng: Có tôi đây; xin hãy sai tôi.” (Ê-sai 6:8).

Nguyện Chúa sẽ dấy lên thật nhiều người rao giảng Tin Lành giữa lòng dân tộc Việt Nam.

16 Nhưng chẳng phải mọi người đều vâng phục Tin Lành đâu; vì Ê-sai có nói: Lạy Chúa! Ai tin lời rao giảng của chúng tôi? [Ê-sai 53:1]

Tuy nhiên, không phải tất cả những người được nghe giảng Tin Lành thì đều tin nhận Tin Lành. Sự tin nhận Tin Lành đòi hỏi trước hết là lòng chân thành ăn năn tội, nghĩa là đau đớn vì nhận biết mình phạm tội, đã làm ra những điều chống nghịch các điều răn của Đức Chúa Trời; đồng thời gớm ghét tội và quyết tâm từ bỏ tội. Những người vẫn say mê những thú vui của tội lỗi, xem mình là cao trọng hơn người khác, thì sẽ không thể nào tin nhận Tin Lành.

17 Như vậy, đức tin đến bởi sự nghe, {là} sự nghe tiếng phán của Thiên Chúa.

Đức tin đến bởi sự được nghe tiếng phán của Thiên Chúa. Trong thời Cựu Ước và trước Cựu Ước, người ta có thể nghe tiếng phán trực tiếp của Đức Chúa Trời hoặc nghe gián tiếp qua các thiên sứ, hoặc qua các tiên tri. Trong thời Tân Ước người ta được nghe tiếng phán trực tiếp của Đức Chúa Jesus Christ hoặc của Đức Thánh Linh, hoặc nghe gián tiếp qua các sứ đồ (người rao giảng Tin Lành), tiên tri, giám mục, trưởng lão, người chăn, hoặc bất cứ một môn đồ nào của Đấng Christ.

18 Nhưng tôi hỏi: Có phải là họ chưa nghe chăng? Trái lại, tiếng của những {sứ giả} đã vang khắp đất, và lời của những {sứ giả} đã đạt đến các nơi tận cùng của thế gian. [Thi Thiên 19:4]

Đại danh từ “họ” trong câu 18 chỉ về dân I-sơ-ra-ên. Phao-lô hỏi rằng, có phải là dân I-sơ-ra-ên chưa được nghe giảng Tin Lành? Ông trả lời câu hỏi của mình bằng cách mượn lời Thi Thiên 19:4 để so sánh rằng, sự rao giảng Tin Lành cho dân I-sơ-ra-ên bởi các sứ đồ và các môn đồ của Đấng Christ, dù là trên vùng đất Ca-na-an hay trong các quốc gia mà người I-sơ-ra-ên lưu lạc đến, đã được rộng khắp. Vấn đề là người I-sơ-ra-ên cứng lòng, không chịu tin nhận Tin Lành, mà còn bách hại những ai rao giảng Tin Lành. Chính bản thân Phao-lô đã bị dân I-sơ-ra-ên đánh đòn năm lần, ném đá khiến ông gần chết một lần, và khiến ông bị tù nhiều lần (II Cô-rinh-tô 11:23-25).

19 Tôi lại hỏi: Dân I-sơ-ra-ên chẳng biết sao? Trước hết, Môi-se đã nói: Ta sẽ giục lòng ganh tị của các ngươi bởi {những kẻ} chẳng phải là một quốc gia. Ta sẽ chọc giận các ngươi bởi một quốc gia ngu dại. [Phục Truyền Luật Lệ Ký 32:21]

Phao-lô hỏi tiếp, dân I-sơ-ra-ên không hiểu điều Thánh Kinh đã chép hay sao? Không thấy là lời tiên tri của Đức Chúa Trời, được Môi-se ghi chép lại, đã ứng nghiệm hay sao? Khi có biết bao nhiêu người từ trong các dân ngoại đã tin nhận và thờ phượng Thiên Chúa, kể cả những dân tộc không có tư cách quốc gia. Khi dân chúng trong một quốc gia ngu dại chỉ biết thờ lạy hình tượng tà thần lại biết vứt bỏ các hình tượng tà thần, để tin nhận và thờ phượng Thiên Chúa:

Vì Lời của Chúa vang ra từ các anh chị em không chỉ trong Ma-xê-đoan và A-chai nhưng cũng trong mỗi nơi mà đức tin của các anh chị em về Đức Chúa Trời đã được đồn ra, đến nỗi chúng tôi không cần phải nói gì cả. Vì chính họ đã thuật lại thế nào các anh chị em đã tiếp đãi chúng tôi; và thế nào các anh chị em đã trở lại cùng Đức Chúa Trời, từ bỏ những hình tượng, để phụng sự Thiên Chúa Hằng Sống và Chân Thật…” (I Tê-sa-lô-ni-ca 1:8-9).

Nhóm chữ: “những kẻ chẳng phải là một quốc gia” có lẽ để chỉ về dân Hy-lạp, đã bị mất nước về tay dân La-mã vào năm 146 TCN. Nhóm chữ “một quốc gia ngu dại” có lẽ để chỉ về đế quốc La-mã. Sự ngu dại được nói đến ở đây là sự ngu dại thuộc linh, khi không tin nhận và thờ phượng Thiên Chúa, mà lại thờ phượng hình tượng tà thần và thờ phượng bậc cầm quyền. Trong thế kỷ 20 và 21 thuộc thời đại của chúng ta, các quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản chính là các quốc gia ngu dại, vì đã bác bỏ sự thờ phượng Thiên Chúa nhưng lại chọn thờ phượng các lãnh tụ.

Khi chúng ta đọc Phục Truyền Luật Lệ Ký 32:16 thì chúng ta thấy: Dân I-sơ-ra-ên giục lòng ganh tỵ và chọc giận Đức Chúa Trời bởi sự cúng thờ hình tượng tà thần. Vì thế, trong Phục Truyền Luật Lệ Ký 32:21 Đức Chúa Trời tiên tri rằng, Ngài sẽ lấy những kẻ không phải là một quốc gia mà giục lòng ganh tỵ của họ, lấy một nước ngu dại mà chọc giận họ.

Mệnh đề: “Ta sẽ giục lòng ganh tỵ của các ngươi” và “Ta sẽ chọc giận các ngươi” không có nghĩa là Đức Chúa Trời làm ra những việc không công bình khiến cho dân I-sơ-ra-ên ganh tỵ và tức giận, mà chỉ có nghĩa là: Việc làm của Đức Chúa Trời, ân điển Ngài ban cho các dân ngoại, đã khiến cho dân I-sơ-ra-ên trở nên ganh tỵ và tức giận.

Đức Chúa Trời đã dùng lòng sốt sắng tin Chúa của những dân tộc không có quốc gia bị đế quốc La-mã thôn tính, và dùng sự tin Chúa của những công dân thuộc một quốc gia vốn ngu dại vì thờ lạy tà thần, thờ lạy loài người (thờ lạy các hoàng đế La-mã) là những người La-mã để thức tỉnh dân I-sơ-ra-ên. Tiếc thay, trước sự tin nhận và thờ phượng Thiên Chúa của các dân ngoại thì dân I-sơ-ra-ên lại nổi lòng ganh tỵ, giận ghét, và ra sức bách hại họ.

20 Và Ê-sai đã bạo dạn mà nói: Ta đã được tìm gặp bởi những kẻ chẳng tìm kiếm Ta! Ta đã được tỏ ra cho những kẻ chẳng cầu hỏi Ta! [Ê-sai 65:1]

21 Nhưng về dân I-sơ-ra-ên thì ông nói: Ta đã giơ tay ra cả ngày, hướng về dân tộc không vâng phục và hay nói nghịch. [Ê-sai 65:2]

Lời tiên tri trong Ê-sai 65 cho thấy, Phần lớn dân I-sơ-ra-ên sẽ cứng lòng cho đến những ngày cuối cùng của Kỳ Tận Thế. Trong khi đó, rất nhiều người từ trong các dân ngoại tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời.

Nhóm chữ “tìm kiếm Ta” và “cầu hỏi Ta” là nói đến hình thức thờ phượng Thiên Chúa của dân I-sơ-ra-ên. Mỗi ngày họ đến đền thờ để tìm kiếm sự ban phước của Chúa và khi có vấn đề thì nhờ các thầy tế lễ cầu hỏi Chúa. Các dân ngoại vì không được Chúa trực tiếp bày tỏ chính mình Ngài cho họ, như Ngài đã làm đối với dân I-sơ-ra-ên, nên các dân ngoại không biết tìm kiếm Chúa và cầu hỏi Chúa như dân I-sơ-ra-ên.

Tuy nhiên, dân I-sơ-ra-ên chỉ thờ phượng Chúa theo hình thức lễ nghi bên ngoài, còn lòng của họ thì không có sự tin kính và vâng phục Chúa. Nên họ tìm Chúa mà không gặp, cầu hỏi Chúa mà không được Ngài đáp lời. Trong khi đó, các dân ngoại được nghe giảng Tin Lành thì vui mừng tin nhận, nên họ tìm gặp Chúa và được Ngài bày tỏ chính Ngài khi họ cầu hỏi Ngài.

Dân I-sơ-ra-ên có Lời Chúa, biết Lời Chúa nhưng không vâng phục Lời Chúa. Trái lại, họ hay nói ra những lời bội nghịch Thiên Chúa. Dù vậy, sự thương xót của Đức Chúa Trời vẫn còn trên dân I-sơ-ra-ên, và sự thành tín của Ngài sẽ làm thành lời hứa của Ngài đối với Áp-ra-ham, I-sác, và Gia-cốp.

Sự vấp phạm của dân I-sơ-ra-ên dẫn đến sự bội nghịch Thiên Chúa. Sự bội nghịch Thiên Chúa dẫn đến sự cứng lòng. Những kẻ đã cứng lòng thì sẽ không còn có thể ăn năn và đã bị định sẵn cho sự hư mất đời đời. Nhưng Đức Chúa Trời là tình yêu, sự thương xót của Ngài không giới hạn. Ngài vẫn “giơ tay ra cả ngày, hướng về dân tộc không vâng phục và hay nói nghịch”, sẵn sàng tiếp nhận bất cứ ai trong dân tộc ấy thật lòng ăn năn và tiếp nhận ân điển của Ngài. Trong những ngày cuối cùng của Kỳ Tận Thế sẽ có những người I-sơ-ra-ên tin nhận Tin Lành, như đã được tiên tri trong Khải Huyền đoạn 7; và cũng có những người dù chưa tin nhận Đấng Christ nhưng hết lòng tin kính Thiên Chúa và vâng giữ Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời. Những người ấy sẽ được Ngài giải cứu khỏi các thiên tai và sự bách hại của AntiChrist (Rô-ma 9:27; Ê-sai 10:22-23). Những người chưa tin nhận Đấng Christ thì sẽ tin nhận Đấng Christ khi họ nhìn thấy Ngài tái lâm (Xa-cha-ri 12:10; Khải Huyền 1:7).

Cuối cùng, dân I-sơ-ra-ên và các dân tộc khác đều được cứu bởi đức tin. Chương trình và ý định của Thiên Chúa được hoàn thành theo đúng thời điểm Ngài đã định.

Nguyện Lời Chúa thánh hóa mỗi một chúng ta và giúp chúng ta lớn lên trong sự hiểu biết Chúa, kính sợ Chúa, và vâng phục Chúa ngày càng hơn! A-men!

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
05/05/2018

Chú Thích

A. Karaoke Thánh Ca: “Hãy Mau Trở Về!”:
https://www.timhieuthanhkinh.net/karaoke/hay-mau-tro-ve/

B. Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012: Đây là bản Thánh Kinh Việt Ngữ trên mạng, đang trong tiến trình hiệu đính. Quý con dân Chúa có thể đọc tại đây: http://www.tt2012.thanhkinhvietngu.net/bible. Những sách nào đã được hiệu đính hoàn toàn sẽ được đăng tại đây: https://christ.thanhkinhvietngu.net/

  • Các chữ nằm trong hai dấu { } không có trong nguyên văn của Thánh Kinh, nhưng được hàm ý theo cấu trúc của văn phạm tiếng Hê-bơ-rơ và tiếng Hy-lạp.

  • Các chữ nằm trong hai dấu [ ] không có trong nguyên văn của Thánh Kinh, đó là chú thích của người dịch.

[1] http://www.timhieutinlanh.net/thac-mac-ve-giao-hoi-giao-phai-he-phai/

[2] http://timhieuthanhkinh.net/?p=92

[3] http://timhieuthanhkinh.net/?p=47

[4] http://timhieuthanhkinh.net/easter-huyen-thoai-ve-easter/

Share This:

Comments are closed.

635 views