450 views

Chú Giải Rô-ma 13:1

Roma_035 Bổn Phận của Công Dân đối với Chính Quyền – Phần Một
(Rô-ma 13:1-7)

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla

Các câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là theo Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012. Xin xem chi tiết trong phần ghi chú ở cuối bài này.

1 Mọi linh hồn phải vâng phục các quyền cao hơn {mình}; vì chẳng có quyền nào mà chẳng {đến} bởi Thiên Chúa, các quyền đều bởi Đức Chúa Trời chỉ định.

2 Cho nên, ai chống cự chính quyền tức là đối nghịch với sự sắp xếp của Đức Chúa Trời. Nhưng những kẻ đối nghịch sẽ chuốc lấy án phạt vào mình.

3 Vì những người cai trị không phải là sự khiếp sợ cho những người lành mà là cho những kẻ ác. Ngươi muốn không sợ chính quyền chăng? Hãy làm điều lành thì ngươi sẽ được khen.

4 Vì người là tôi tớ của Thiên Chúa để làm ích cho ngươi. Nhưng nếu ngươi làm ác thì hãy sợ; vì người mang gươm chẳng phải là vô cớ. Người là tôi tớ của Thiên Chúa, {là} người thi hành hình phạt, giáng cơn giận trên kẻ làm ác.

5 Vậy nên cần phải vâng phục, chẳng phải chỉ bởi cơn giận nhưng cũng bởi lương tâm.

6 Cũng vì vậy mà các anh chị em nộp thuế; vì họ là các tôi tớ của Thiên Chúa, hằng giữ việc ấy.

7 Vậy nên, các anh chị em hãy trả cho mọi người những gì mình thiếu họ: sự nộp thuế cho người thu thuế, sự đóng lệ phí cho người thu lệ phí, sự sợ người đáng sợ, sự kính người đáng kính.

Kính mời quý con dân Chúa dành thời gian nghe bài giảng này,
có nhiều thí dụ và giải thích chi tiết hơn là phần bài viết

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để nghe hoặc tải xuống mp3 bài giảng này:
OpenDrive:
https://od.lk/f/MV8xNjgwMjY1MDZf
SoundCloud: https://soundcloud.com/huynh-christian-timothy/11635_chugiairoma_13_1-7_bonphancuacongdandoivoichinhquyenphanmot
MediaFire: http://www.mediafire.com/file/9c1uoa59z4u3kpw/11635_ChuGiaiRoma_13_1-7BonPhanCuaCongDanDoiVoiChinhQuyenPhanMot.mp3/file

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết pdf:
Amazon Drive:
https://www.amazon.com/clouddrive/share/EERPUwTASJiTF0aRyt5inO35U3LZbPYs8qE7kOvo5oU
MediaFire: https://www.mediafire.com/folder/u3amorru4ba4t/baigiang_pdf
OpenDrive: https://od.lk/fl/MV8xNjEzMzAzNV8

Ngày Chúa đến đã quá gần. Kính xin quý con dân Chúa tích cực bằng mọi phương tiện, mọi cách phổ biến bài giảng này đến tất cả những con dân Chúa mình quen biết, để dự phần trong việc gây dựng lẫn nhau trong Hội Thánh, giúp nhau sống đúng theo Lời Chúa, sẵn sàng cho sự đến của Đức Chúa Jesus Christ. Xin cám ơn quý con dân Chúa. (Xin đọc bài này: http://www.timhieutinlanh.net/trach-nhiem-cua-con-dan-chua-khi-pho-bien-hoac-khong-pho-bien-mot-bai-giang/).

Thánh Kinh là Lời Hằng Sống của Thiên Chúa, là tiêu chuẩn và thẩm quyền tuyệt đối cho loài người trong mọi sự. Rô-ma 13:1-7 là một phân đoạn rất đặc biệt trong Thánh Kinh, nói đến một sự việc rất quan trọng mà chúng ta ai nấy đều phải đối diện mỗi ngày trong cuộc sống. Đó là sự chúng ta phải hạ mình vâng phục các bậc có quyền trên mình. Rô-ma 13:1 khẳng định rằng, mọi quyền cai trị đều đến từ Thiên Chúa và do Đức Chúa Trời chỉ định. Chính vì thế mà mọi người có bổn phận phải vâng phục các quyền cao hơn mình.

Tuy nhiên, sự vâng phục đó không có nghĩa là vâng phục một cách mù quáng, dẫn đến sự vi phạm bất cứ điều răn nào của Thiên Chúa. Sự vâng phục được nói đến ở đây là “vâng phục trong Chúa”, bao gồm: sự con dân Chúa phải vâng phục lẫn nhau, vợ phải vâng phục chồng, con cái phải vâng phục cha mẹ, và dân chúng phải vâng phục nhà cầm quyền. Vâng phục trong Chúa các bậc cầm quyền là vâng phục khi quyền ấy được thi hành đúng theo Lời Chúa. Khi thầy tế lễ thượng phẩm ra lệnh cấm các sứ đồ của Đức Chúa Jesus Christ rao giảng Tin Lành, thì Sứ Đồ Phi-e-rơ và các bạn của mình đã khẳng khái trả lời rằng: “Chúng ta thà vâng phục Thiên Chúa hơn là loài người” (Công Vụ Các Sứ Đồ 5:29).

Thánh Kinh có ghi lại sự kiện các bà mụ người Hê-bơ-rơ đã không vâng lệnh của Pha-ra-ôn để giết các trẻ trai sơ sinh người Hê-bơ-rơ, và các bà đã được Đức Chúa Trời ban phước (Xuất Ê-díp-tô Ký 1:15-21). Thánh Kinh cũng ghi lại sự kiện người gái điếm Ra-háp thành Giê-ri-cô đã che dấu hai thám tử của dân I-sơ-ra-ên, nghịch lại nhà cầm quyền, nhờ đó mà cả gia đình của nàng không bị diệt chung với dân thành Giê-ri-cô (Giô-suê 2 và 6), và nàng trở thành một trong các tổ mẫu của Đức Chúa Jesus.

Trong bài này chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về chính quyền và bổn phận vâng phục chính quyền của công dân.

1 Mọi linh hồn phải vâng phục các quyền cao hơn {mình}; vì chẳng có quyền nào mà chẳng {đến} bởi Thiên Chúa, các quyền đều bởi Đức Chúa Trời chỉ định.

Từ ngữ đầu tiên chúng ta cần phải chú ý là từ ngữ “mọi linh hồn”. Lời Chúa không nói “mọi người” nhưng nói “mọi linh hồn”. Vì sao Chúa không dùng từ ngữ “mọi người” mà lại dùng từ ngữ “mọi linh hồn”? Thực tế, linh hồn chính là bản ngã của chúng ta, là “cái tôi”. Mỗi người là một thực thể do Thiên Chúa dựng nên theo hình và ảnh của Ngài, là một linh hồn được mặc lấy một thân thể thiêng liêng là tâm thần và một thân thể vật chất là xác thịt [1]. Nhưng có lẽ vì từ ngữ “mọi người” chỉ khiến cho chúng ta nghĩ đến con người phần xác thịt, còn từ ngữ “mọi linh hồn” khiến cho chúng ta lập tức nghĩ đến phần thuộc linh của loài người, nên Đức Thánh Linh đã khiến cho Sứ Đồ Phao-lô dùng từ ngữ “mọi linh hồn” trong Rô-ma 13:1, để giúp chúng ta ý thức đến sự nghiêm trọng của mệnh lệnh Chúa truyền cho chúng ta trong câu này.

Từ ngữ “mọi linh hồn” bao gồm tất cả mọi người, không ngoại trừ một ai. Mọi linh hồn phải vâng phục có nghĩa là mọi người phải vâng phục từ trong bản ngã của mình, chứ không phải chỉ vâng phục theo hình thức bên ngoài. Sự vâng phục được nói đến ở đây là sự vâng phục tự nguyện, không cần phải có sự kiểm soát hay ép buộc. Nói theo cách thường nói là “tâm phục khẩu phục”, nghĩa là sự vâng phục từ trong tấm lòng được thể hiện thành lời nói qua môi miệng, và đương nhiên phải được xác định bằng hành động.

Từ ngữ thứ nhì chúng ta cần chú ý là từ ngữ “vâng phục”. Từ ngữ này trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh có nghĩa là: Đặt mình vào trong sự nghe và làm theo ý muốn, mệnh lệnh, và sự điều khiển của ai đó.

Từ ngữ thứ ba chúng ta cần chú ý là từ ngữ “quyền” (G1849) [2] trong nhóm chữ “các quyền cao hơn mình”. Trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh, chữ “quyền” này chỉ về nhiều quyền khác nhau, nhưng được dùng trong câu này với nghĩa: quyền cai trị, quyền dẫn dắt, quyền phán xử. Nhóm chữ “các quyền cao hơn mình” hàm ý, bản thân mỗi chúng ta đều có các quyền tự do được ban cho bởi Thiên Chúa (cũng cùng một chữ quyền G1849), nhưng Thiên Chúa cũng ban cho người khác quyền cai trị chúng ta. Quyền cai trị ấy được gọi là quyền cao hơn vì nó cao hơn các quyền tự do căn bản được Thiên Chúa ban cho chúng ta. Quyền cai trị cao hơn quyền tự do căn bản của loài người không phải để áp bức loài người, mà để ngăn ngừa và trừng trị những kẻ lạm dụng quyền tự do của mình để làm hại người khác.

Các quyền tự do căn bản được Thiên Chúa ban cho chúng ta đã được loài người nhận biết và tuyên xưng một cách khá đầy đủ trong một văn bản, gọi là: Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (Lời Tuyên Xưng của Các Quốc Gia Trên Thế Giới về Các Quyền Tự Do của Loài Người) [3]. Văn bản ấy ghi lại 29 quyền tự do căn bản của loài người, chỉ ghi thiếu hai quyền: quyền tự do chọn sự sống và phước lành mà Thiên Chúa đã ban cho loài người; quyền tự do chọn sự chết và sự rủa sả bằng cách chống nghịch Thiên Chúa (Phục Truyền Luật Lệ Ký 30:19)!

Mặc dù theo văn mạch thì Rô-ma 13:1-7 nói về chính quyền, tức là những bậc cầm quyền trong một quốc gia. Nhưng sự dạy dỗ của phân đoạn này vẫn có thể áp dụng vào trong sự chúng ta phải vâng phục các quyền khác cao hơn chúng ta, ngoài quyền của chính quyền:

  • Trong gia đình: Chồng có quyền trên vợ, vợ phải vâng phục chồng trong mọi sự như vâng phục Chúa (Ê-phê-sô 5:22-24; Cô-lô-se 3:18; I Phi-e-rơ 3:1). Cha mẹ có quyền trên con cái, con cái phải vâng phục cha mẹ (Ê-phê-sô 6:1; Cô-lô-se 3:20).

  • Trong Hội Thánh: Mọi người phải vâng phục lẫn nhau (Ê-phê-sô 5:21; I Phi-e-rơ 5:5).

  • Trong xã hội: Tôi tớ phải vâng phục chủ (Ê-phê-sô 6:5; Cô-lô-se 3:22; Tít 2:9; I Phi-e-rơ 2:18).

Tuy nhiên, trong bài này chúng ta chỉ tìm hiểu về chính quyền và sự vâng phục chính quyền. Về các sự vâng phục khác thì quý ông bà anh chị em có thể đọc và nghe các bài giảng chú giải những câu Thánh Kinh nói đến các sự vâng phục ấy. Các bài giảng ấy đã được đăng trên khu mạng: www.timhieuthanhkinh.net.

Lý do mỗi linh hồn phải vâng phục chính quyền, là vì: Chẳng có quyền nào, trong đó có chính quyền, mà chẳng đến bởi Thiên Chúa, các quyền đều bởi Đức Chúa Trời chỉ định. Lời Chúa khẳng định:

Ngài thay đổi thì giờ và mùa. Ngài bỏ các vua và lập các vua. Ngài ban sự khôn sáng cho những nhà thông thái, và {ban} sự thông minh cho những người hiểu biết.” (Đa-ni-ên 2:21).

Đa-ni-ên 4:17 cũng công bố rằng: “Đấng Rất Cao cai trị trong vương quốc của loài người và ban nó cho ai tùy ý Ngài muốn.”

Nhiều người cho rằng các nhà cầm quyền độc tài, bất công, gian ác không do Thiên Chúa lập nên. Tuy nhiên, câu Đức Chúa Jesus Christ trả lời Tổng Đốc Phi-lát, (người ra lệnh tử hình Đức Chúa Jesus Christ một cách bất công, dù chính ông ta đã ba lần tuyên xưng rằng, Ngài vô tội,) đã khẳng định rằng, quyền tổng đốc của Phi-lát là do Đức Chúa Trời ban cho. Sự thi hành quyền ấy một cách bất công, làm ra sự ác là sự tự do lựa chọn của Phi-lát:

Đức Chúa Jesus đáp: Ngươi chẳng có quyền trên Ta nếu chẳng phải từ trên cao đã ban cho ngươi. Bởi vậy, kẻ nộp Ta cho ngươi có tội trọng hơn.” (Giăng 19:11).

Như vậy, Đức Chúa Trời chỉ định những người cầm quyền không phải vì họ là những người công chính, mà vì cách họ thi hành quyền Chúa ban cho họ hoàn thành những ý định của Ngài trong dòng lịch sử của loài người. Nhà cầm quyền có thể tốt, có thể xấu tùy theo sự tự do lựa chọn thi hành quyền mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ. Nhưng mọi việc làm của họ, dù thiện hay ác, Đức Chúa Trời đều biết trước và cho phép xảy ra, rồi Ngài dùng đó làm thành mọi việc của Ngài. Chúng ta hãy ghi nhớ lời này:

Không phải hai con chim sẻ bị bán {với giá} một đồng xu sao? {Nhưng} không một con nào trong chúng rơi xuống đất mà không {bởi ý của} Cha các ngươi.” (Ma-thi-ơ 10:29).

Khi cần thiết để chấm dứt sự tự do chọn làm ác của những kẻ cầm quyền gian ác thì Đức Chúa Trời sẽ ra tay vào thời điểm Ngài đã định. Khi chúng ta đọc 12 đoạn đầu tiên của sách Xuất Ê-díp-tô Ký trong Thánh Kinh, chúng ta thấy rõ sự tự do lựa chọn của Pha-ra-ôn cùng với quyền tể trị tuyệt đối của Đức Chúa Trời trên nhà cầm quyền của xứ Ê-díp-tô thời xưa. Lời Chúa chép:

Lòng của vua ở trong tay Đấng Tự Hữu Hằng Hữu khác nào dòng nước chảy; Ngài làm nghiêng lệch nó bề nào tùy ý Ngài muốn.” (Châm Ngôn 21:1).

Chúng ta cũng cần nhớ rằng: Sự dữ và sự ác hoàn toàn khác nhau. Sự dữ là sự làm cho thiệt hại, đau buồn, khổ sở, bất an. Sự ác là bất cứ điều gì nghịch lại ý muốn của Thiên Chúa và sự vinh quang của Ngài. Sự ác đồng nghĩa với tội lỗi. Làm ác tức là phạm tội. Thiên Chúa không bao giờ làm ra sự ác, vì Ngài là Thiện. Nhưng Thiên Chúa cho phép sự ác xảy ra vì đó là điều phải có để các thiên sứ và loài người thật sự được tự do lựa chọn. Sự Thiên Chúa cho phép sự ác xảy ra chính là quyền tự do chối bỏ Thiên Chúa, chống nghịch Thiên Chúa, mà Ngài đã ban cho các thiên sứ và loài người. Tiếc thay! Đã có nhiều thiên sứ và phần lớn loài người chọn chối bỏ Thiên Chúa!

Sự dữ có thể được Thiên Chúa làm ra một cách yêu thương và công chính để sửa phạt loài người. Lời Chúa chép:

Ta hình thành sự sáng và sáng tạo sự tối tăm. Ta làm ra sự bình an và sáng tạo sự dữ. Ta, Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, làm mọi sự đó.” (Ê-sai 45:7).

Sự sáng là sự vinh quang của Thiên Chúa. Sự vinh quang của Thiên Chúa là sự chiếu ra bản tính của Ngài: yêu thương, thánh khiết, và công chính. Trong Xuất Ê-díp-tô Ký 33:18 ghi lại lời Môi-se xin Đấng Tự Hữu Hằng Hữu cho ông được nhìn thấy sự vinh quang của Ngài. Trong Xuất Ê-díp-tô Ký 33:22 ghi lại sự đồng ý của Thiên Chúa. Và trong Xuất Ê-díp-tô Ký 34:5-7 ghi lại như sau:

Đấng Tự Hữu Hằng Hữu ngự xuống trong đám mây, đứng với ông tại đó, và hô danh của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu. Đấng Tự Hữu Hằng Hữu đi ngang qua mặt ông, hô rằng: Đấng Tự Hữu Hằng Hữu! Đấng Tự Hữu Hằng Hữu! Thiên Chúa từ ái, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ, và chân thật; ban ơn đến nhiều ngàn {đời}, tha thứ sự gian ác, sự phản nghịch, và tội lỗi; nhưng chẳng bỏ qua {tội lỗi}; và phạt tội của tổ phụ trên con và cháu đến đời thứ ba và đời thứ tư.”

Chúng ta thấy:

  • Thánh Kinh dùng tên riêng của Thiên Chúa “Đấng Tự Hữu Hằng Hữu” trong trường hợp này, để nói lên thực thể và thực tính của Ngài. Ngài là CÓ, là THỰC, KHÔNG BAO GIỜ THAY ĐỔI, và CÓ MÃI.

  • Thiên Chúa tự xưng danh Ngài là “Đấng Tự Hữu Hằng Hữu” ba lần vì Thiên Chúa có ba thân vị: Đức Chúa Trời, Ngôi Lời, và Đấng Thần Linh. Khi tương giao với con dân Chúa thì Thiên Chúa dùng danh xưng: Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh.

  • Thiên Chúa thể hiện sự vinh quang của Ngài cho Môi-se được chiêm ngưỡng và qua tiếng rao to của Thiên Chúa thì chúng ta nhận thấy:

  1. Các điều sau đây là sự chiếu sáng ra tình yêu của Thiên Chúa: từ ái, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ, và chân thật; ban ơn đến nhiều ngàn đời, tha thứ sự gian ác, sự phản nghịch, và tội lỗi.

  2. Điều sau đây là sự chiếu sáng ra sự thánh khiết, không chấp nhận tội lỗi của Thiên Chúa: chẳng bỏ qua tội lỗi.

  3. Và điều sau đây là sự chiếu sáng ra sự công chính của Thiên Chúa: phạt tội của tổ phụ trên con và cháu đến đời thứ ba và đời thứ tư. Sở dĩ Thiên Chúa phạt tội của tổ phụ trên con cháu đến đời thứ ba và thứ tư là vì người ta thường làm ác để thủ lợi cho con cháu. Ngoài ra, ý nghĩa của sự phạt tội trên con cháu đến đời thứ ba và đời thứ tư còn có nghĩa là vì tổ phụ gian ác mà con cháu các đời kế tiếp không được Đức Chúa Trời ban ơn. Tuy nhiên, nếu những người có tội biết ăn năn hoặc con cháu của những người có tội biết tin kính Thiên Chúa, thì Ngài sẽ lập tức tha thứ và ban ơn cho họ.

Thiên Chúa hình thành sự vinh quang của Ngài có nghĩa là: Sự vinh quang của Ngài cùng có với Ngài vì là bản tính của Ngài và Ngài khiến cho sự vinh quang của Ngài thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau.

Sự tối tăm đối nghịch với sự sáng. Sự tối tăm là sự cản trở khiến cho không nhận thấy được sự sáng. Thiên Chúa sáng tạo sự tối tăm có nghĩa là: Ban đầu không có sự tối tăm, nhưng Thiên Chúa đã sáng tạo sự tối tăm. Chúng ta nên nhớ, vào lúc ban đầu, trước khi Thiên Chúa sáng tạo muôn loài thì không có sự gì ngoài Thiên Chúa là Đấng tự có và có mãi cùng với sự vinh quang của Ngài. Sự tối tăm vật lý được sáng tạo khi các nguyên tử đầu tiên, còn gọi là các hạt bụi vật chất, được sáng tạo để làm nền tảng cho công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa. Tiếp theo đó, Thiên Chúa sáng tạo sự sáng vật lý, bằng cách ban năng lực cho các hạt nguyên tử chuyển động, kết hợp với nhau, tạo thành những đám mây bụi vũ trụ, phát ra sức nóng và ánh sáng. Sự tối tăm thuộc linh được sáng tạo để khiến cho những kẻ chối bỏ Thiên Chúa không được nhìn thấy những hình thức vinh quang của Ngài. Thật vậy, Lời Chúa chép:

Họ sẽ bị hình phạt hư mất đời đời, xa cách mặt Chúa và sự vinh quang của sức mạnh Ngài…” (II Tê-sa-lô-ni-ca 1:9).

Động từ “làm ra” trong mệnh đề “Ta làm ra sự bình an,” có nghĩa là làm ra một sự gì, một điều gì từ các dữ liệu hay các vật liệu đã có sẵn. Từ sự vinh quang của Thiên Chúa, tức là từ bản tính yêu thương, thánh khiết, và công chính của Thiên Chúa mà Ngài đã làm ra sự bình an để ban cho những ai thuộc về Ngài.

Sự dữ vốn không có từ ban đầu như bao nhiêu sự khác, nhưng vì sự phạm tội của các thiên sứ và loài người mà Thiên Chúa đã sáng tạo sự dữ, khiến cho sự dữ từ chỗ không có trở thành có. Mục đích của Thiên Chúa khi sáng tạo sự dữ là để sửa phạt những kẻ chống nghịch Ngài. Sự sửa phạt của Thiên Chúa luôn bắt đầu bằng sự giúp cho kẻ ác nhận thấy sự sai trái của mình mà ăn năn. Sự sửa phạt của Thiên Chúa sẽ kết thúc bằng án phạt đời đời, khiến cho kẻ bị sửa phạt bị hư mất đời đời, nếu kẻ ấy không ăn năn.

Một trong những sự dữ Thiên Chúa sáng tạo, được ghi lại trong Thánh Kinh, thường bị những kẻ không tin Chúa lên án Thiên Chúa, cho rằng, Ngài là độc ác. Đó là sự Ngài dùng dân I-sơ-ra-ên hủy diệt các dân tộc sống trong xứ Ca-na-an, cách nay gần 3.500 năm. Mệnh lệnh Thiên Chúa ban ra cho dân I-sơ-ra-ên lúc ấy là:

Riêng những thành của các dân tộc này, mà Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi làm sản nghiệp, ngươi chớ để sống bất cứ vật nào có hơi thở, nhưng hãy tận diệt chúng: dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít, y như Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, Thiên Chúa của ngươi, đã phán dặn.” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 20:16-17).

Bây giờ, hãy đi đánh dân A-ma-léc và diệt hết mọi vật chúng có! Ngươi sẽ không thương xót chúng nó, nhưng giết đàn ông lẫn đàn bà, từ trẻ con đến trẻ đang bú, từ bò đến chiên, từ lạc đà đến lừa.” (I Sa-mu-ên 15:3).

Tuy nhiên, Thiên Chúa đã cho các dân ấy thời gian khoảng 400 năm để họ ăn năn (Sáng Thế Ký 15:13-16).

Tương tự như vậy, trước đó khoảng 1.500 năm thì chính Thiên Chúa đã ra tay hủy diệt toàn thể loài người và mọi vật sống trên đất trong cơn Lụt Lớn, ngoại trừ gia đình Nô-ê, gồm tám người, là một gia đình biết tin kính Thiên Chúa (Sáng Thế Ký 6 và 7). Lý do là vì sự phạm tội của loài người đã lên đến giới hạn mà Thiên Chúa cho phép. Nghĩa là không còn một tội ác nào mà loài người không phạm và Thiên Chúa đã cho họ dư dật thời gian để ăn năn. Sau đó, Thiên Chúa lại hủy diệt toàn thể loài người và mọi vật sống trong thành Sô-đôm, thành Gô-mô-rơ, và các thành lân cận, ngoại trừ ba cha con của Lót. Lý do cũng vì sự phạm tội của dân các thành ấy đã lên đến giới hạn mà Thiên Chúa cho phép.

Theo các chi tiết trong Thánh Kinh, các ghi chép lịch sử của loài người, các di tích khảo cổ thì tội lỗi của loài người trước cơn Lụt Lớn, của dân thành Sô-đôm, Gô-mô-rơ, các thành lân cận, và của các dân tộc trong xứ Ca-na-an bao gồm: tà dâm, ngoại tình, đồng tính luyến ái, quan hệ tình dục với các loài thú, trộm cướp, giết người, thờ lạy các tà thần, và nhất là dâng trẻ con vô tội làm của lễ thiêu lên các tà thần.

Sự Thiên Chúa cất đi mạng sống của những kẻ phạm tội mà không ăn năn phục vụ cho ba mục đích sau đây: Bởi sự thánh khiết của Thiên Chúa, tội lỗi phải chấm dứt. Bởi sự công chính của Thiên Chúa, tội nhân không ăn năn phải bị hình phạt. Bởi sự yêu thương của Thiên Chúa, tội nhân không còn cơ hội gây ra thêm nhiều tội để phải chịu hình phạt nặng hơn trong kỳ phán xét chung cuộc, là khi mà mỗi người sẽ bị án phạt tùy theo mỗi tội lỗi đã làm ra (Khải Huyền 20:11-15).

Thiên Chúa xem trẻ con là vô tội:

Họ giết để dâng cho ma quỷ những con trai và những con gái của họ. {Họ} làm đổ máu vô tội, là máu của những con trai và những con gái của họ, mà họ đã giết để dâng cho những thần tượng của xứ Ca-na-an; nên xứ bị ô uế bởi máu.” (Thi Thiên 106:37-38).

Chính Đức Chúa Jesus Christ đã phán:

Hãy để yên những con trẻ, đừng ngăn cấm chúng nó đến với Ta! Vì Vương Quốc Trời thuộc về những ai giống như chúng.” (Ma-thi-ơ 19:14; xem thêm Mác 10:14; Lu-ca 18:16).

Vì thế, chúng ta phải hiểu rằng, sự giết chết các trẻ con vô tội trong cơn Lụt Lớn, trong thành Sô-đôm, Gô-mô-rơ cùng các thành lân cận, và trong các thành của bảy dân tộc thuộc xứ Ca-na-an là sự thương xót lớn của Thiên Chúa dành cho chúng nó. Vì: chúng nó không lớn lên trong cảnh phải làm nô lệ cho những người đã tàn sát gia đình của chúng; và có thể bản thân của chúng sẽ phạm tội, không ăn năn, mà bị hư mất đời đời; nhờ qua đời trong khi chưa tự mình phạm tội mà chúng nó được vào trong vương quốc của Đức Chúa Trời.

Trên hết mọi sự, Thiên Chúa là Đấng dựng nên muôn loài vạn vật. Ngài ban sự sống cho muôn loài và Ngài có quyền lấy lại bất kỳ khi nào, vì bất cứ lý do gì. Loài người là ai mà dám bắt lỗi Thiên Chúa và đem tiêu chuẩn đạo đức của mình ra để đánh giá Thiên Chúa? Lời Chúa chép:

Bây giờ, hãy nhìn xem Ta! Ta {là} Đấng ấy! Chẳng có thần nào với Ta. Ta giết chết và Ta làm cho sống! Ta đánh cho bị thương và Ta chữa cho lành! Cũng không có sự giải cứu khỏi tay Ta.” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 32:39).

Vì {như} các tầng trời cao hơn đất, thì những đường lối của Ta cao hơn những đường lối của các ngươi và những ý tưởng của Ta {cao hơn} những ý tưởng của các ngươi.” (Ê-sai 55:9).

Đấng Tự Hữu Hằng Hữu đã ban cho và Đấng Tự Hữu Hằng Hữu lại cất đi! Đáng tôn vinh danh của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu!” (Gióp 1:21b)

Trong thực tế cuộc sống, chúng ta thấy có những chính quyền rất là hà khắc dân chúng, cướp đi các quyền tự do căn bản của loài người. Điều đó khiến cho nhiều người không tin rằng các chính quyền đó đến từ Thiên Chúa. Nhưng các câu Thánh Kinh mà chúng ta đã đọc trên đây đã giúp cho chúng ta thấy rõ: Chẳng có quyền nào mà chẳng đến bởi Thiên Chúa, các quyền đều bởi Đức Chúa Trời chỉ định. Vì thế bổn phận của công dân là phải vâng phục chính quyền của địa phương và quốc gia mà mình sinh sống. Lời Chúa chép:

Ngài đã làm ra các dân tộc của loài người từ một dòng máu, để ở khắp trên mặt đất, và xác định thời gian đã định sẵn cho họ cùng biên giới chỗ ở của họ; để cho họ tìm kiếm Chúa, nếu họ cảm nhận Ngài và tìm kiếm Ngài, dù Ngài chẳng ở xa mỗi một người trong chúng ta.” (Công Vụ Các Sứ Đồ 17:26-27).

Sẽ rất là vô lý nếu Đức Chúa Trời đã định sẵn biên giới chỗ ở của loài người, hàm ý, Ngài phân chia loài người thành các quốc gia, mà Ngài lại không chỉ định chính quyền để cai trị các quốc gia ấy.

Khi chính quyền biến thành bạo quyền, hà khắc dân chúng, thì dân chúng có quyền không vâng phục bất cứ mệnh lệnh nào của chính quyền nghịch lại Thánh Kinh. Thí dụ: dân chúng không cần vâng theo: lệnh cấm tin nhận và thờ phượng Thiên Chúa; lệnh cấm nhóm họp thờ phượng Thiên Chúa; lệnh cấm in, phổ biến, và đọc Thánh Kinh; lệnh cấm giảng Tin Lành… Sự không vâng phục chính quyền trong các trường hợp như vậy sẽ là bất hợp pháp với luật pháp do bạo quyền đặt ra, nhưng không nghịch lại Thiên Chúa. Trái lại, nếu vâng phục các lệnh ấy là phạm tội nghịch lại Thiên Chúa. Danh từ chuyên môn trong triết học và luật pháp của loài người gọi sự không vâng phục những mệnh lệnh nào của chính quyền nghịch lại các quyền tự do căn bản của loài người, như đã được ghi trong Bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền là “sự không vâng phục của công dân” (trong tiếng Anh là: “civil disobedience”).

Mặc dù chẳng có quyền nào mà chẳng đến bởi Thiên Chúa, các quyền đều bởi Đức Chúa Trời chỉ định; nhưng cũng có những quyền do loài người tự lập ra, không phải do Đức Chúa Trời chỉ định:

Chúng nó đã lập những vua mà không bởi Ta. Chúng nó đã lập những kẻ cai trị mà Ta không biết. Chúng nó lấy bạc và vàng của chúng nó mà làm những thần tượng cho mình, để chúng nó bị chặt bỏ.” (Ô-sê 8:4).

Câu này áp dụng cho sự việc con dân Chúa tự chọn những bậc cầm quyền cho chính mình. Ngoài ra, trong các giáo hội mang danh Chúa thì đó là việc “phong chức” giáo sĩ, “mục sư”, truyền đạo, giám mục, trưởng lão, chấp sự. Ai dám chiếm lấy quyền của Đức Chúa Jesus Christ, Đấng làm đầu của Hội Thánh, để “phong chức” cho người này, người kia? Ê-phê-sô 4:11 nói rõ, các chức vụ trong Hội Thánh là do Đức Chúa Jesus Christ ban cho. Vì thế, khi Đức Thánh Linh tỏ ra cho Hội Thánh biết, ai là người được Đức Chúa Jesus Christ chọn làm các chức vụ trong Hội Thánh thì Hội Thánh công nhận (Công Vụ Các Sứ Đồ 13:2-3), hoặc trong trường hợp những người rao giảng Tin Lành thiết lập Hội Thánh tại một địa phương mới, thì Đức Thánh Linh hướng dẫn họ thay Chúa chọn ra người Chúa đã sắm sẵn để làm trưởng lão và chấp sự tại Hội Thánh ấy (I Ti-mô-thê 3; Tít 1), chứ không có việc ai hay tổ chức nào có quyền “phong chức”. Và cũng không bao giờ có điều kiện phải tốt nghiệp một trường Thánh Kinh hay thần học thì mới được giữ các chức vụ trong Hội Thánh.

(Xin xem tiếp phần hai)

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
16/06/2018

Chú Thích

A. Karaoke Thánh Ca: “Theo Chúa”:
https://www.timhieuthanhkinh.net/karaoke/theo-chua/

B. Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012: Đây là bản Thánh Kinh Việt Ngữ trên mạng, đang trong tiến trình hiệu đính. Quý con dân Chúa có thể đọc tại đây: http://www.tt2012.thanhkinhvietngu.net/bible. Những sách nào đã được hiệu đính hoàn toàn sẽ được đăng tại đây: https://christ.thanhkinhvietngu.net/

  • Các chữ nằm trong hai dấu { } không có trong nguyên văn của Thánh Kinh, nhưng được hàm ý theo cấu trúc của văn phạm tiếng Hê-bơ-rơ và tiếng Hy-lạp.

  • Các chữ nằm trong hai dấu [ ] không có trong nguyên văn của Thánh Kinh, đó là chú thích của người dịch.

[1] Xin đọc và nghe 12 bài giảng về loài người tại đây: http://timhieuthanhkinh.net/le-that-cua-thanh-kinh/

[2] https://www.blueletterbible.org/lang/lexicon/lexicon.cfm?Strongs=G1849

[3] https://vi.wikipedia.org/wiki/Tuyên_ngôn_Quốc_tế_Nhân_quyền

Share This:

Comments are closed.

450 views