5,254 views

Tóm Lược Lịch Sử Loài Người Theo Thánh Kinh

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
https://www.opendrive.com/folders?MV84OTQ4MjcwX1F1aXU1

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla (Mỹ Linh)
Trích từ Tác Phẩm “Kỳ Tận Thế”

Trong chương này, chúng tôi tổng hợp các dữ kiện trong Thánh Kinh, đối chiếu với các chi tiết của thế giới sử để trình bày biên niên sử loài người từ khi sáng thế cho đến khi dân I-sơ-ra-ên được hình thành, và biên niên sử của dân I-sơ-ra-ên từ khi được hình thành cho đến hiện tại. Dân I-sơ-ra-ên đã được Thiên Chúa chọn để hoàn thành chương trình và ý muốn của Ngài dành cho nhân loại. Dân I-sơ-ra-ên, vì thế, đã trở nên “chiếc đồng hồ lịch sử của nhân loại,” nghĩa là, nhìn vào dân I-sơ-ra-ên sẽ biết được khi nào thì kỳ tận thế sẽ đến.

Từ khi dân I-sơ-ra-ên chối bỏ Đức Chúa Jesus Christ là Cứu Chúa của nhân loại, tức là chối bỏ sự cứu rỗi của Thiên Chúa, vào năm 27, thì Thiên Chúa tạm ngưng chương trình của Ngài đối với dân I-sơ-ra-ên và tiến hành sự cứu rỗi trong các dân tộc khác. Sứ Đồ Phao-lô đã tiên tri từ hơn 1900 năm trước: “Vả, hỡi anh em, tôi không muốn anh em chẳng biết sự mầu nhiệm nầy, e anh em tự cho mình khôn ngoan chăng: ấy là một phần dân I-sơ-ra-ên đã sa vào sự cứng lòng, cho đến chừng nào số dân ngoại nhập vào được đầy đủ; vậy thì, cả dân I-sơ-ra-ên sẽ được cứu, như có chép rằng: Đấng Giải Cứu sẽ đến từ Si-ôn, cất sự vô Đạo ra khỏi Gia-cốp; Ấy là sự giao ước mà Ta sẽ lập với họ, khi Ta xóa tội lỗi họ rồi” (Rô-ma 11:24-27).

Khi số người trong các dân tộc khác chịu tin nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa được đủ số thì cả dân I-sơ-ra-ên sẽ tiếp nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa. Chúng ta không biết con số dân ngoại tiếp nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa lên đến bao nhiêu thì gọi là “đủ số,” vì đó là một huyền nhiệm của Thiên Chúa. Nhưng chúng ta biết thời điểm “dân ngoại nhập vào được đầy đủ”; con số những người tin nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa đã gần. Bởi vì, ngày 14 tháng 5 năm 1948, Thiên Chúa đã tiếp tục trở lại chương trình của Ngài đối với dân I-sơ-ra-ên. Trong một ngày, Thiên Chúa đã dựng lại Quốc Gia I-sơ-ra-ên trong một bối cảnh lịch sử tưởng chừng như đó là việc không thể xảy ra: “Ai đã hề nghe một sự thể nầy? Ai đã hề thấy sự gì giống như vậy? Nước há dễ sanh ra trong một ngày, dân tộc há dễ sanh ra trong một chặp? Mà Si-ôn mới vừa nằm nơi, đã sanh con cái” (Ê-sai 66:8). (Si-ôn là tên ngọn núi nơi Thủ Đô Giê-ru-sa-lem được xây dựng.) Đó là lời tiên tri về sự tái lập quốc I-sơ-ra-ên được chính Thiên Chúa tiên tri từ hơn 2700 năm trước, (Ê-sai được Thiên Chúa sai làm tiên tri cho dân I-sơ-ra-ên vào khoảng năm 767 TCN). Chiếc đồng hồ báo giờ kết thúc lịch sử tự trị đầy tội lỗi của toàn thể của nhân loại đã bắt đầu chạy lại sau hơn 1900 năm tạm thời đứng yên! Những chi tiết lịch sử trong chương này sẽ giúp quý bạn đọc thấy được sự chính xác tuyệt vời của các lời tiên tri trong Thánh Kinh.

Có bốn loại lịch được dùng trong biên niên sử dưới đây: Thứ nhất là Lịch Julian (Julian Calendar), thứ nhì là Lịch Do-thái (Hebrew Calendar), thứ ba là Lịch Thánh Kinh, và thứ tư là Lịch Gregorian.

  • Lịch Julian: Được cải thiện từ một loại lịch của người La-mã và được Hoàng Đế Julius của La-mã đưa vào sử dụng từ năm 46 TCN. Châu Âu thời cổ dùng lịch này cho đến khi Lịch Gregorian được dùng và thông dụng khắp nơi như ngày nay. Trong biên niên sử này, các dữ kiện lịch sử trước năm 1582, là năm Lịch Gregorian được đưa vào sử dụng, được đánh dấu bằng Lịch Julian.

  • Lịch Do-thái: Được thiết lập vào khoảng năm 359 TCN. Lịch Do-thái bắt đầu với ngày 1 tháng Tishri (tháng 7) năm 1, nhằm thứ hai, ngày 7 tháng 10 năm 3761 TCN của Lịch Julian.

  • Lịch Thánh Kinh: Là một hệ thống lịch do chúng tôi đề nghị. Lịch Thánh Kinh tương tự như Lịch Hê-bơ-rơ, chỉ khác hai điều, là năm thứ nhất của Lịch Thánh Kinh được bắt đầu từ khi dân I-sơ-ra-ên được Thiên Chúa ban hành lịch, như được ghi chép trong sách Xuất Ê-díp-tô Ký chương 12 của Thánh Kinh, và bắt đầu bằng tháng Nissan. Ngày 1 tháng 1 năm 1 của Lịch Thánh Kinh tương đương với Thứ Năm, ngày 12 tháng 3 năm 1446 TCN của Lịch Julian, và tương đương với Thứ Năm, ngày 1 tháng Nissan năm 2315 của Lịch Hê-bơ-rơ. Mục đích của Lịch Thánh Kinh là giúp cho chúng ta nhận thức ngay, từ khi Thiên Chúa ban hành lịch cho loài người, qua dân I-sơ-ra-ên, đến nay là bao nhiêu năm. Những năm trước năm 1 của Lịch Thánh Kinh sẽ được gọi là những năm “trước lịch,” viết tắt là “TL.” Thí dụ, năm 1TL, năm 2 TL, năm 3TL,vv… Năm 2013 Dương Lịch (Lịch Gregorian) nhằm năm 3459 của Lịch Thánh Kinh.

  • Lịch Gregorian: Còn được gọi là Dương Lịch hoặc Tây Lịch, do Giáo Hoàng Gregory XIII của Công Giáo La-mã ra sắc lệnh ngày 24 tháng 2 năm 1582, đưa vào sử dụng. Ngày nay, Lịch Gregorian đã trở thành một thứ lịch quốc tế, được tất cả các quốc gia trên thế giới sử dụng. Trong biên niên sử này, các dữ kiện lịch sử từ năm 1582 được đánh dấu bằng Lịch Gregorian.

Trong sách này, thuật ngữ “Trước Công Nguyên” viết tắt là “TCN” được dùng để chỉ những năm trước năm 1 làm chuẩn của Lịch Julian hoặc Lịch Gregorian. Những năm sau năm 1 TCN thường được dùng thuật ngữ “Công Nguyên” để chỉ định. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ không dùng thuật ngữ “Công Nguyên,” viết tắt là “CN” đàng sau những năm từ năm 1 trở đi, để đơn giản hóa câu văn.

Giáo Hội Công Giáo cho rằng năm 1 làm chuẩn của Lịch Gregorian (tương đương năm 1 Lịch Julian) là năm sinh của Chúa nên gọi những năm từ năm 1 trở đi là “Trong Năm của Chúa,” trong tiếng La-tin là “Anno Domini,” viết tắt là AD. Những năm trước đó, được giới Cơ-đốc Giáo gọi là “Before Christ” trong tiếng Anh, viết tắt là BC, và khởi đếm từ 1 BC. Giữa năm 1 AD và năm 1 BC không có năm 0. Vì thế, từ năm 2 BC đến năm 2 AD là khoảng thời gian dài 3 năm. Tuy nhiên, năm 1 không phải là năm Chúa giáng sinh, mà Chúa giáng sinh khoảng bảy năm trước đó, vào năm 7 BC. Vì sự tính sai đó mà cách dùng AD và BC trở thành vô nghĩa. Thay vào đó, cách dùng “Công Nguyên” (“Common Era” viết tắt là CE) và “Trước Công Nguyên” (“Before Common Era” viết tắt là BCE) hợp lý hơn. Công (common) là chung, Nguyên (era) là bắt đầu một thời đại. Công Nguyên là thời đại mà nhân loại bắt đầu dùng chung một thứ lịch.

Chúng tôi dùng nhu liệu hoán chuyển lịch từ website http://www.abdicate.net/cal.aspx, là một nhu liệu đáng tin cậy để thiết lập bảng tóm lược dưới đây. Tất cả các số liệu về thời gian từ khi sáng thế đến khi Vua Sa-lô-môn xây dựng đền thờ của Thiên Chúa chỉ có tính cách phỏng đoán, dựa trên những chi tiết lịch sử được ghi chép trong Thánh Kinh.

Năm Julian: 4114 TCN
Năm Thánh Kinh: 2668 TL

Thiên Chúa sáng tạo các tầng trời và đất cùng muôn vật trong các tầng trời và đất: “Ban đầu, Thiên Chúa sáng tạo các tầng trời và đất.” (Sáng Thế Ký 1:1)

Công trình sáng tạo kéo dài trong sáu ngày, ngày thứ bảy được Thiên Chúa ban phước và làm thành ngày yên nghỉ, tạo thành chu kỳ một tuần lễ bảy ngày: “Thiên Chúa thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ sáu” (Sáng Thế Ký 1:31). “Ngày thứ bảy, Thiên Chúa làm xong các công việc Ngài đã làm, và ngày thứ bảy, Ngài nghỉ các công việc Ngài đã làm. Rồi, Ngài ban phước cho ngày thứ bảy, đặt là ngày thánh; vì trong ngày đó, Ngài nghỉ các công việc đã sáng tạo và đã làm xong rồi.” (Sáng Thế Ký 2:2-3)

Thiên Chúa dựng nên loài người và ban cho loài người một thân thể bằng vật chất: Giê-hô-va Thiên Chúa bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh. (Sáng Thế Ký 2:7)

Năm Julian: 3984 TCN
Năm Thánh Kinh: 2538 TL

A-đam sinh ra Sết: “Vả, A-đam được một trăm ba mươi tuổi, sanh một con trai giống như hình tượng mình, đặt tên là Sết.” (Sáng Thế Ký 5:3)

Năm Julian: 3879 TCN
Năm Thánh Kinh: 2433 TL

Sết sinh ra Ê-nót: “Sết được một trăm năm tuổi, sanh Ê-nót.” (Sáng Thế Ký 5:6)

Năm Julian: 3789 TCN
Năm Thánh Kinh: 2343 TL

Ê-nót sinh ra Kê-nan: “Ê-nót được chín mươi tuổi, sanh Kê-nan.” (Sáng Thế Ký 5:9)

Năm Do-thái: 1
Năm Julian: 3761 TCN
Năm Thánh Kinh: 2315 TL

Lịch Do-thái bắt đầu với ngày 1 tháng Tishri (tháng 7) năm 1, nhằm thứ hai ngày 7 tháng 10 năm 3761 TCN của Lịch Julian.

Năm Do-thái: 42
Năm Julian: 3719 TCN
Năm Thánh Kinh: 2273 TL

Kê-nan sinh ra Ma-ha-la-le: “Kê-nan được bảy mươi tuổi, sanh Ma-ha-la-le.” (Sáng Thế Ký 5:12)

Năm Do-thái: 107
Năm Julian: 3654 TCN
Năm Thánh Kinh: 2208 TL

Ma-ha-la-le sinh ra Giê-rệt: “Ma-ha-la-le được sáu mươi lăm tuổi, sanh Giê-rệt.” (Sáng Thế Ký 5:15)

Năm Do-thái: 269
Năm Julian: 3492 TCN
Năm Thánh Kinh: 2046 TL

Giê-rệt sinh ra Hê-nóc: “Giê-rệt được một trăm sáu mươi hai tuổi, sanh Hê-nóc.” (Sáng Thế Ký 5:18)

Năm Do-thái: 334
Năm Julian: 3427 TCN
Năm Thánh Kinh: 1981 TL

Hê-nóc sinh ra Mê-tu-sê-la: “Hê-nóc được sáu mươi lăm tuổi, sanh Mê-tu-sê-la.” (Sáng Thế Ký 5:21)

Năm Do-thái: 521
Năm Julian: 3240 TCN
Năm Thánh Kinh: 1794 TL

Mê-tu-sê-la sinh ra Lê-méc: “Mê-tu-sê-la được một trăm tám mươi bảy tuổi, sanh Lê-méc.” (Sáng Thế Ký 5:25)

Năm Do-thái: 577
Năm Julian: 3184 TCN
Năm Thánh Kinh: 1738 TL

A-đam qua đời: “Vậy, A-đam hưởng thọ được chín trăm ba mươi tuổi, rồi qua đời.” (Sáng Thế Ký 5:5)

Năm Do-thái: 634
Năm Julian: 3127 TCN
Năm Thánh Kinh: 1681 TL

Hê-nóc được Thiên Chúa cất ra khỏi thế gian:
“Vậy Hê-nóc hưởng thọ được ba trăm sáu mươi lăm tuổi. Hê-nóc đồng đi cùng Thiên Chúa, rồi mất biệt, bởi vì Thiên Chúa tiếp người đi.” (Sáng Thế Ký 5:23-24)

Bởi đức tin, Hê-nóc được cất lên và không hề thấy sự chết; người ta không thấy người nữa, vì Đức Chúa Trời đã tiếp người lên. Bởi chưng trước khi được tiếp lên, người đã được chứng rằng mình ở vừa lòng Đức Chúa Trời rồi.” (Hê-bơ-rơ 11:5)

Hê-nóc tiêu biểu cho sự kiện: Hội Thánh của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jesus Christ, bao gồm những người trung tín đồng đi với Chúa, tức là hết lòng sống theo Lời Chúa, là Thánh Kinh, cũng sẽ được Đức Chúa Trời đem ra khỏi thế gian trước bảy năm đại nạn của kỳ tận thế. Khải Huyền 3:10 khẳng định: “Vì ngươi đã giữ lời của sự nhẫn nại Ta, Ta cũng sẽ giữ ngươi khỏi giờ thử thách là giờ sẽ đến trên mọi người trong thế gian để thử nghiệm những kẻ ở trên đất.”

Năm Do-thái: 703
Năm Julian: 3058 TCN
Năm Thánh Kinh: 1612 TL

Lê-méc sinh ra Nô-ê: “Lê-méc được một trăm tám mươi hai tuổi, sanh một trai, đặt tên là Nô-ê, mà nói rằng: Đứa nầy sẽ an ủy lòng ta về công việc và về sự nhọc nhằn mà đất bắt tay ta phải làm, là đất Đức Giê-hô-va đã rủa sả.” (Sáng Thế Ký 5:28-29)

Năm Do-thái: 1205
Năm Julian: 2556 TCN
Năm Thánh Kinh: 1110 TL

Nô-ê sinh ra Sem. Sáng Thế Ký 5:32 chép: “Còn Nô-ê, khi đến năm trăm tuổi, sanh Sem, Cham, và Gia-phết;” là nói một cách tổng quát rằng, khi Nô-ê được 500 tuổi thì ông bắt đầu sinh con, rồi liệt kê tên ba người con của ông. Điều đó không có nghĩa là khi Nô-ê được 500 tuổi thì cùng một lúc sinh được ba người con. Sáng Thế Ký 11:10 cho biết, hai năm sau cơn nước lụt, Sem mới được 100 tuổi, trong khi đó, cơn nước lụt xảy ra lúc Nô-ê được 600 tuổi (Sáng Thế Ký 7:6). Vậy, Sem phải được sinh ra khi Nô-ê được 502 tuổi [1].

Năm Do-thái: 1303
Năm Julian: 2458 TCN
Năm Thánh Kinh: 1012 TL

Mê-tu-sê-la qua đời: “Vậy, Mê-tu-sê-la hưởng thọ được chín trăm sáu mươi chín tuổi, rồi qua đời.” (Sáng Thế Ký 5:27)

Nô-ê được 600 tuổi. Vào ngày 17 tháng tháng 2, Cơn Lụt Lớn xảy ra hủy diệt mọi sinh vật trên đất, trừ gia đình Nô-ê tám người và các loài sinh vật đã vào trong một chiếc tàu lớn do Thiên Chúa sai ông đóng nên: “Nhằm năm sáu trăm của đời Nô-ê, tháng hai, ngày mười bảy, chánh ngày đó, các nguồn của vực lớn nổ ra, và các đập trên trời mở xuống; mưa sa trên mặt đất trọn bốn mươi ngày và bốn mươi đêm. Lại cũng trong một ngày đó, Nô-ê với vợ, ba con trai: Sem, Cham và Gia-phết, cùng ba dâu mình đồng vào tàu.” (Sáng Thế Ký 7:11-13)

Nô-ê tiêu biểu cho sự kiện: Trong bảy năm đại nạn của kỳ tận thế, là lúc Hội Thánh của Chúa đã được cất ra khỏi thế gian, sẽ có nhiều người tin Chúa được cứu khỏi các tai nạn. Sau cơn đại nạn, họ sẽ trở thành những công dân của vương quốc Ngàn Năm Bình An trên đất, cai trị bởi Đức Chúa Jesus Christ và Hội Thánh của Ngài. Từ nơi họ, loài người sẽ tiếp tục được sinh ra trong suốt một ngàn năm để làm đầy đất.

Năm Do-thái: 1304
Năm Julian: 2457 TCN
Năm Thánh Kinh: 1011 TL

Ngày 1 tháng 1 năm thứ 601 của đời Nô-ê, nước lụt lui đi, mặt đất khô lại: “Nhằm năm sáu trăm một của đời Nô-ê, ngày mồng một, tháng Giêng, nước đã giựt bày mặt đất khô; Nô-ê bèn giở mui tàu mà nhìn; nầy, mặt đất đã se.” (Sáng Thế Ký 8:13)

Đến ngày 27 tháng 2 thì mặt đất hoàn toàn khô hẵn. Thiên Chúa phán truyền cho gia đình Nô-ê và các loài sinh vật ra khỏi tàu: “Đến tháng hai, ngày hai mươi bảy, đất đã khô rồi. Thiên Chúa bèn phán cùng Nô-ê rằng: Hãy ra khỏi tàu, ngươi, vợ các con và các dâu ngươi. Hãy thả ra với ngươi mọi vật sống của các xác thịt đã ở cùng ngươi: nào chim, nào thú, nào côn trùng bò trên đất, hầu cho chúng nó sanh sản, và thêm nhiều trên mặt đất” (Sáng Thế Ký 8:14-19).

Năm Do-thái: 1305
Năm Julian: 2456 TCN
Năm Thánh Kinh: 1010 TL

Sem sinh ra A-bác-sát: “Đây là dòng dõi của Sem: Cách hai năm, sau cơn nước lụt, Sem được một trăm tuổi, sanh A-bác-sát” (Sáng Thế Ký 11:10).

Năm Do-thái: 1340
Năm Julian: 2421 TCN
Năm Thánh Kinh: 975 TL

A-bác-sát sinh ra Sê-lách: “A-bác-sát được ba mươi lăm tuổi, sanh Sê-lách.” (Sáng Thế Ký 11:12)

Năm Do-thái: 1370
Năm Julian: 2391 TCN
Năm Thánh Kinh: 945 TL

Sê-lách sinh ra Hê-be: “Sê-lách được ba mươi tuổi, sanh Hê-be.” (Sáng Thế Ký 11:14)

Năm Do-thái: 1404
Năm Julian: 2357 TCN
Năm Thánh Kinh: 911 TL

Hê-be sinh ra Bê-léc: “Hê-be được ba mươi bốn tuổi, sanh Bê-léc.” (Sáng Thế Ký 11:16)

Bê-léc có nghĩa là “chia.” Sáng Thế Ký 10:25 cho biết trong đời Bê-léc đất được chia ra. Sự chia đất này có thể là sự đất tách rời thành các đại lục như chúng ta biết ngày hôm nay. Cũng có thể là sự phân tán các dân tộc và định biên giới cho họ:

Sáng Thế Ký 10:32 “Ấy là các họ hàng của ba con trai Nô-ê tùy theo đời và dân tộc của họ; lại cũng do nơi họ mà các dân chia ra trên mặt đất sau cơn nước lụt.”

Sáng Thế Ký 11:8-9 “Rồi, từ đó Đức Giê-hô-va làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất, và họ thôi công việc xây cất thành. Bởi cớ đó đặt tên thành là Ba-bên, vì nơi đó Đức Giê-hô-va làm lộn xộn tiếng nói của cả thế gian, và từ đây Ngài làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất.”

Phục Truyền Luật Lệ Ký 32:8 “Khi Đấng Chí Cao phân phát sản nghiệp cho muôn dân, phân rẽ những con cái A-đam, thì Ngài định bờ cõi của các dân.”

Công Vụ Các Sứ Đồ 17:26-27 “Ngài đã làm cho muôn dân sanh ra bởi chỉ một người, và khiến ở khắp trên mặt đất, định trước thì giờ đời người ta cùng giới hạn chỗ ở, hầu cho tìm kiếm Chúa, và hết sức rờ tìm cho được, dẫu Ngài chẳng ở xa mỗi một người trong chúng ta.”

Năm Do-thái: 1434
Năm Julian: 2327 TCN
Năm Thánh Kinh: 881 TL

Bê-léc sinh ra Rê-hu: “Bê-léc được ba mươi tuổi, sanh Rê-hu.” (Sáng Thế Ký 11:18)

Năm Do-thái: 1466
Năm Julian: 2295 TCN
Năm Thánh Kinh: 849 TL

Rê-hu sinh ra Sê-rúc: “Rê-hu được ba mươi hai tuổi, sanh Sê-rúc.” (Sáng Thế Ký 11:20)

Năm Do-thái: 1496
Năm Julian: 2265 TCN
Năm Thánh Kinh: 819 TL

Sê-rúc sinh ra Na-cô: “Sê-rúc được ba mươi tuổi, sanh Na-cô.” (Sáng Thế Ký 11:22)

Năm Do-thái: 1525
Năm Julian: 2236 TCN
Năm Thánh Kinh: 790 TL

Na-cô sinh ra Tha-rê: “Na-cô được hai mươi chín tuổi, sanh Tha-rê.” (Sáng Thế Ký 11:24)

Năm Do-thái: 1595
Năm Julian: 2166 TCN
Năm Thánh Kinh: 720 TL

Tha-rê sinh ra Áp-ram: “Còn Tha-rê được bảy mươi tuổi, sanh Áp-ram, Na-cô và Ha-ran.” (Sáng Thế Ký 11:26)

Năm Do-thái: 1605
Năm Julian: 2156 TCN
Năm Thánh Kinh: 710 TL

Sa-rai, vợ của Áp-ram được sinh ra. Chiết tính theo chi tiết trong Sáng Thế Ký 17:17, cho biết, lúc Áp-ram được 100 tuổi thì Sa-ra được 90 tuổi.

Năm Do-thái: 1653
Năm Julian: 2108 TCN
Năm Thánh Kinh: 662 TL

Nô-ê qua đời lúc Áp-ram được 58 tuổi: “Sau khi lụt, Nô-ê còn sống ba trăm năm mươi năm. Vậy, Nô-ê hưởng thọ được chín trăm năm mươi tuổi, rồi qua đời.” (Sáng Thế Ký 9:28-29

Năm Do-thái: 1670
Năm Julian: 2091 TCN
Năm Thánh Kinh: 645 TL

Áp-ram lúc 75 tuổi, cùng với cháu mình là Lót, rời Cha-ran, theo tiếng gọi của Thiên Chúa: “Vả, Đức Giê-hô-va có phán cùng Áp-ram rằng: Ngươi hãy ra khỏi quê hương, vòng bà con và nhà cha ngươi, mà đi đến xứ ta sẽ chỉ cho. Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn; ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước. Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước cho ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi; và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước. Rồi Áp-ram đi, theo như lời Đức Giê-hô-va đã phán dạy; Lót đồng đi với người. Khi Áp-ram ra khỏi Cha-ran, tuổi người được bảy mươi lăm. Áp-ram dẫn Sa-rai, vợ mình, Lót, cháu mình, cả gia tài đã thâu góp, và các đầy tớ đã được tại Cha-ran, từ đó ra, để đi đến xứ Ca-na-an; rồi, chúng đều đến xứ Ca-na-an.” (Sáng Thế Ký 12:1-5)

Năm Do-thái: 1680
Năm Julian: 2081 TCN
Năm Thánh Kinh: 635 TL

Áp-ram lấy A-ga, nữ nô lệ người Ai-cập của Sa-rai, làm vợ thứ: “Sau khi Áp-ram đã trú ngụ mười năm tại xứ Ca-na-an, Sa-rai, vợ người, bắt A-ga, là con đòi Ê-díp-tô mình, đưa cho chồng làm hầu. Người lại cùng con đòi, thì nàng thọ thai. Khi con đòi thấy mình thọ thai, thì khinh bỉ bà chủ mình.” (Sáng Thế Ký 16:3-4)

Năm Do-thái: 1681
Năm Julian: 2080 TCN
Năm Thánh Kinh: 634 TL

Ích-ma-ên, con trai của Áp-ram và A-ga được sinh ra “Vả lại, khi A-ga sanh Ích-ma-ên cho Áp-ram, thì Áp-ram đã được tám mươi sáu tuổi.” (Sáng Thế Ký 16:16)

Năm Do-thái: 1694
Năm Julian: 2067 TCN
Năm Thánh Kinh: 621 TL

Áp-ram được Thiên Chúa đổi tên thành Áp-ra-ham, lúc ông được 99 tuổi: “Khi Áp-ram được chín mươi chín tuổi, thì Đức Giê-hô-va hiện đến cùng người và phán rằng: Ta là Thiên Chúa toàn năng; ngươi hãy đi ở trước mặt Ta làm một người trọn vẹn… Thiên hạ chẳng còn gọi ngươi là Áp-ram nữa, nhưng tên ngươi là Áp-ra-ham, vì Ta đặt ngươi làm tổ phụ của nhiều dân tộc” (Sáng Thế Ký 17:1, 5). Áp-ra-ham có nghĩa là “cha của nhiều dân tộc.”

Vợ của Áp-ra-ham được đổi tên từ Sa-rai thành Sa-ra: “Thiên Chúa phán cùng Áp-ra-ham rằng: còn Sa-rai, vợ ngươi, chớ gọi là Sa-rai nữa; nhưng Sa-ra là tên người đó” (Sáng Thế Ký 17:15). Sa-ra có nghĩa là “công chúa.”

Thiên Chúa hứa với Áp-ra-ham, qua năm sau, Sa-ra sẽ sinh một con trai, đặt tên là I-sác mà Ngài sẽ lập giao ước đời đời cùng dòng dõi của I-sác, (sau này là dân I-sơ-ra-ên): “Thiên Chúa bèn phán rằng: Thật vậy, Sa-ra vợ ngươi, sẽ sanh một con trai, rồi ngươi đặt tên là I-sác. Ta sẽ lập giao ước cùng nó, để làm giao ước đời đời cho dòng dõi của nó.” (Sáng Thế Ký 17:19)

Thiên Chúa hứa với Áp-ra-ham, Ích-ma-ên sẽ trở nên tổ phụ của 12 chi tộc, (sau này là dân Ả-rập): “Ta cũng nhậm lời ngươi xin cho Ích-ma-ên. Nầy, ta ban phước cho người, sẽ làm cho người sanh sản và thêm nhiều quá-bội; người sẽ là tổ phụ của mười hai vị công-hầu, và ta làm cho người thành một dân lớn.” (Sáng Thế Ký 17:20)

Thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ bị Thiên Chúa hủy diệt vì tội lỗi của cư dân: “Đoạn, Đức Giê-hô-va giáng mưa diêm sanh và lửa từ nơi Ngài trên trời sa xuống Sô-đôm và Gô-mô-rơ, hủy diệt hai thành nầy, cả đồng bằng, hết thảy dân sự cùng các cây cỏ ở nơi đất đó.” (Sáng Thế Ký 19:24-25)

Năm Do-thái: 1700
Năm Julian: 2061 TCN
Năm Thánh Kinh: 615 TL

I-sác thôi bú, A-ga và Ích-ma-ên bị đuổi ra khỏi gia đình Áp-ra-ham: “Áp-ra-ham dậy sớm, lấy bánh và một bầu nước, đưa cho A-ga; để các món đó trên vai nàng, và giao đứa trai cho nàng, rồi đuổi đi. Nàng ra đi, đi dông dài trong đồng vắng Bê-e-sê-ba.” (Sáng Thế Ký 21:14)

Năm Do-thái: 1732
Năm Julian: 2029 TCN
Năm Thánh Kinh: 583 TL

Sa-ra qua đời: “Sa-ra hưởng thọ được một trăm hai mươi bảy tuổi. Ấy là bao nhiêu năm của đời Sa-ra.” (Sáng Thế Ký 23:1)

Năm Do-thái: 1735
Năm Julian: 2026 TCN
Năm Thánh Kinh: 580 TL

I-sác kết hôn cùng Rê-bê-ca: “Vả, khi I-sác được bốn mươi tuổi, thì cưới Rê-bê-ca, con gái của Bê-tu-ên và em gái của La-ban, đều là dân A-ram, ở tại xứ Pha-đan-a-ram.” (Sáng Thế Ký 25:20)

Năm Do-thái: 1755
Năm Julian: 2006 TCN
Năm Thánh Kinh: 560 TL

I-sác sinh ra Ê-sau và Gia-cốp: “Đứa ra trước đỏ hồng, lông cùng mình như một áo tơi lông; đặt tên là Ê-sau. Kế em nó lại ra sau, tay nắm lấy gót Ê-sau; nên đặt tên là Gia-cốp. Khi sanh hai đứa con nầy thì I-sác đã được sáu mươi tuổi.” (Sáng Thế Ký 25:25-26)

Năm Do-thái: 1795
Năm Julian: 1966 TCN
Năm Thánh Kinh: 520 TL

Ê-sau kết hôn với Giu-đít: “Khi Ê-sau được bốn mươi tuổi, cưới Giu-đít, con gái của Bê -e-ri, người Hê-tít; và Bách-mát, con gái của Ê-lôn, cũng người Hê-tít.” (Sáng Thế Ký 26:34)

Năm Do-thái: 1875
Năm Julian: 1886 TCN
Năm Thánh Kinh: 440 TL

I-sác qua đời: “I-sác hưởng thọ được một trăm tám mươi tuổi.” (Sáng Thế Ký 35:28)

Năm Do-thái: 1885
Năm Julian: 1876 TCN
Năm Thánh Kinh: 430 TL

Gia-cốp di cư đến Ai-cập: “Đoạn, Giô-sép dẫn Gia-cốp, cha mình, đến yết-kiến Pha-ra-ôn. Gia-cốp chúc phước cho Pha-ra-ôn. Pha-ra-ôn hỏi Gia-cốp rằng: Ngươi hưởng thọ được bao nhiêu tuổi? Gia-cốp tâu rằng: Những năm tôi sống ở đời phiêu lưu hết thảy là một trăm ba mươi năm; các năm của đời tôi lấy làm ngắn-ngủi và lại nhọc nhằn, chẳng bằng những năm bình sanh của tổ phụ tôi khi người ở phiêu lưu đó.” (Sáng Thế Ký 47:7-9)

Năm Do-thái: 1902
Năm Julian: 1859 TCN
Năm Thánh Kinh: 413 TL

Gia-cốp qua đời: “Gia-cốp kiều ngụ trong xứ Ê-díp-tô được mười bảy năm, hưởng thọ được một trăm bốn mươi bảy tuổi.” (Sáng Thế Ký 47:28)

Năm Do-thái: 2315
Năm Julian: 1446 TCN
Năm Thánh Kinh: 1

Dân I-sơ-ra-ên ra khỏi xứ A-cập: “Vả, thì kiều ngụ của dân I-sơ-ra-ên tại xứ Ê-díp-tô được bốn trăm ba mươi năm. Khi mãn bốn trăm ba mươi năm rồi, thì, cũng trong ngày đó, các quân đội của Đức Giê-hô-va ra khỏi xứ Ê-díp-tô.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:40-41)

Thì kiều ngụ của dân I-sơ-ra-ên bắt đầu vào năm sáng thế 2238, khi Gia-cốp và các con trai mình di cư đến Ai-cập.

Dân I-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ai-cập vào thứ năm, ngày 15 tháng Nissan năm 2315 Lịch Do-thái, nhằm thứ năm, ngày 26 tháng 3 năm 1446 TCN Lịch Julian: “Ngày rằm tháng giêng, tức ngày sau lễ Vượt-qua, dân I-sơ-ra-ên ra đi từ Ram-se, cách dạn dĩ, có mắt của hết thảy người Ê-díp-tô thấy.” (Dân Số Ký 33:3).

Dựa vào I Các Vua 6:1 và dữ kiện lịch sử về việc Vua Sa-lô-môn lên ngôi năm 970 TCN mà chúng ta tính ra được năm dân I-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ai-cập nhằm năm 1446 TCN: “Xảy ra năm bốn trăm tám mươi, sau khi dân I-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô, là năm thứ tư của Sa-lô-môn trị vì trên I-sơ-ra-ên, nhằm tháng Xíp, nghĩa là tháng thứ hai, thì người cất đền của Đức Giê-hô-va.”

Vua Sa-lô-môn lên ngôi năm 970 TCN tương đương với năm thứ 2791 Lịch Do-thái. Vậy, lấy năm thứ tư của đời vua Sa-lô-môn, tức là năm 2795 Lịch Do-thái trừ đi 480 năm, chúng ta sẽ có năm 2315 Lịch Do-thái, tương đương với năm 1446 Lịch Julian.

Như vậy, theo Thánh Kinh chúng ta có thể thiết lập được: từ khi A-đam được dựng nên cho đến khi Dân I-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập là 2668 năm. Chúng ta đi từ dữ kiện lịch sử năm lên ngôi của Vua Sa-lô-môn là năm 970 TCN Lịch Julian và I Các Vua 6:1 để tính ra năm 1446 Lịch Julian tương đương với năm 2668 Lịch Sáng Thế. Theo lịch sử, năm 1 của Lịch Do-thái tương đương với năm 3761 TCN của Lịch Julian, nên chúng ta biết dân I-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập vào năm 2315 Lịch Do-thái.

Chúng ta thấy: Ngày dân I-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập là đúng 430 năm kể từ khi Gia-cốp, tổ phụ của dân I-sơ-ra-ên di cư đến Ai-cập mà cũng đúng 480 năm nếu tính đến đời thứ tư của Vua Sa-lô-môn. Như vậy, dữ kiện lịch sử đã chứng minh lẽ thật của Thánh Kinh như đã ghi rõ trong Xuất Ê-díp-tô Ký 12:40-41 và I Các Vua 6:1.

Có một điểm trùng hợp quan trọng: Ngày Lễ Vượt Qua đầu tiên do chính Thiên Chúa thiết lập vào thứ tư, ngày 14 tháng Nissan năm 2315 Lịch Do-thái, nhằm thứ tư, ngày 25 tháng 3 năm 1446 TCN Lịch Julian. Đức Chúa Jesus Christ, Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng cất tội lỗi của thế gian, chết trên thập tự giá vào ngày Lễ Vượt Qua, thứ tư, ngày 14 tháng Nissan năm 3787 Lịch Do-thái, nhằm thứ tư, ngày 9 tháng 4 năm 27 Lịch Julian, làm ứng nghiệm ý nghĩa thuộc linh của Lễ Vượt Qua.

Trong vài bài giảng của chúng tôi, khi nói đến ngày Lễ Vượt Qua đầu tiên, chúng tôi đã nghĩ rằng, ngày 14 tháng Nissan là ngày Sa-bát. Sự suy nghĩ đó dựa trên Xuất Ê-díp-tô Ký 12:2: “Tháng nầy định làm tháng đầu cho các ngươi, tức là tháng Giêng trong quanh năm;” cho rằng, ngày mùng một của tháng Giêng phải là ngày thứ nhất (chủ nhật), và như vậy, các ngày 7, 14, 21, và 28 của tháng Giêng sẽ đương nhiên là ngày Sa-bát. Tuy nhiên, có lẽ Thiên Chúa đã phán với Môi-se nhằm ngày thứ năm trong tuần, và như vậy, ngày thứ nhất của tháng Giêng mới mà Thiên Chúa thiết lập cho dân I-sơ-ra-ên chính là ngày thứ năm, để bảo tồn sự chính xác của ngày Sa-bát từ khi sáng thế, dẫn đến ngày 14 tháng Nissan (tháng Giêng) của Lễ Vượt Qua đầu tiên là một ngày thứ tư. Sự kiện trùng lập của ngày Lễ Vượt Qua đầu tiên và ngày chết của Đức Chúa Jesus Christ cùng là thứ tư ngày 14 tháng Nissan là một dấu chứng mạnh mẽ cho giả thuyết lời phán của Thiên Chúa trong Xuất Ê-díp-tô Ký 12 với Môi-se nhằm ngày thứ năm trong tuần lễ.

Năm Do-thái: 2355
Năm Julian: 1406 TCN
Năm Thánh Kinh: 41

Dân I-sơ-ra-ên tiến vào đất hứa Ca-na-an nhằm ngày 10 tháng Nissan năm 2355 Lịch Do-thái, và toàn thể dân sự chịu lễ cắt bì: “Ngày mồng mười tháng giêng, dân sự đi lên khỏi sông Giô-đanh, và đóng trại tại Ghinh-ganh, ở cuối phía đông Giê-ri-cô.” (Giô-suê 4:19)

Sau đó, dân I-sơ-ra-ên giữ Lễ Vượt Qua lần đầu tiên trong đất Ca-na-an nhằm Thứ Tư, ngày 14 tháng Nissan năm 2355 Lịch Do-thái, tròn 40 năm sau Lễ Vượt Qua lần đầu tiên tại xứ Ai-cập. Qua ngày 15 tháng Nissan thì họ ăn thổ sản của xứ và ma-na không còn ban xuống từ trời cho họ nữa: “Dân I-sơ-ra-ên đóng trại tại Ghinh-ganh trong đồng bằng Giê-ri-cô, và giữ lễ Vượt qua nhằm ngày mười bốn tháng này, vào lối chiều tối. Ngày sau lễ Vượt qua, chánh này đó, dân sự ăn thổ sản của xứ, bánh không men, và hột rang. Ngày mà chúng đã ăn lúa mì của xứ, thì đến sáng mai ma-na hết; vậy, dân I-sơ-ra-ên không có ma-na nữa, nhưng trong năm đó ăn những thổ sản của Ca-na-an.” (Giô-suê 5:10-12)

Năm Do-thái: 2711
Năm Julian: 1050 TCN
Năm Thánh Kinh: 397

Vua Sau-lơ lên ngôi, cai trị 40 năm [2].

Năm Do-thái: 2751
Năm Julian: 1010 TCN
Năm Thánh Kinh: 437

Vua Đa-vít lên ngôi, cai trị 40 năm [2].

Năm Do-thái: 2791
Năm Julian: 970 TCN
Năm Thánh Kinh:477

Vua Sa-lô-môn lên ngôi, cai trị 40 năm [2].

Năm Do-thái: 2795
Năm Julian: 966 TCN
Năm Thánh Kinh: 481

Đền thờ của Thiên Chúa, còn gọi là Đền Thờ Thứ Nhất, được Vua Sa-lô-môn khởi công xây cất: “Xảy ra năm bốn trăm tám mươi, sau khi dân I-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô, là năm thứ tư của Sa-lô-môn trị vì trên I-sơ-ra-ên, nhằm tháng Xíp, nghĩa là tháng thứ hai, thì người cất đền của Đức Giê-hô-va.” (I Các Vua 6:1)

Năm Do-thái: 3039
Năm Julian: 722 TCN
Năm Thánh Kinh: 725

Vương Quốc Israel bị hủy diệt bởi Đế Quốc A-si-ri (II Các Vua 17).

Năm Do-thái: 2923
Năm Julian: 606 TCN
Năm Thánh Kinh: 609

Vua Nê-bu-cát-nết-xa của Đế Quốc Ba-by-lôn tiến công Giê-ru-sa-lem và bắt dân Giu-đa đem về Ba-by-lôn làm nô lệ lần thứ nhất .

Năm Do-thái: 3174
Năm Julian: 587 TCN
Năm Thánh Kinh: 860

Vương Quốc Giu-đa bị hủy diệt bởi Đế Quốc Ba-by-lôn (II Các Vua 24 và 25).

Thành Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ Thứ Nhất bị hủy diệt bởi Vua Nê-bu-cát-nết-xa của Đế Quốc Ba-by-lôn vào ngày 29 tháng 7 năm 587 TCN [3].

Năm Do-thái: 3221
Năm Julian: 536 TCN
Năm Thánh Kinh: 907

Vua Si-ru của Vương Quốc Phe-rơ-sơ (Iran ngày nay) xâm chiếm Ba-by-lôn và ra chiếu chỉ cho phép dân I-sơ-ra-ên được quay về, xây dựng lại tường thành Giê-ru-sa-lem và đền thờ: “Năm thứ nhất đời Si-ru, vua Phe-rơ-sơ trị vì, Đức Giê-hô-a muốn làm cho ứng nghiệm lời Ngài đã cậy miệng Giê-rê-mi mà phán ra, bèn cảm động lòng Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, rao truyền trong khắp nước mình, và cũng ra chiếu chỉ, mà rằng: Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, nói như vầy: Giê-hô-va Thiên Chúa đã ban cho ta các nước thế gian, và biểu ta xây cất cho Ngài một cái đền ở tại Giê-ru-sa-lem trong xứ Giu-đa. Trong các ngươi, phàm ai thuộc về dân sự Ngài, hãy trở lên Giê-ru-sa-lem; nguyện Giê-hô-va Thiên Chúa của người ấy ở cùng người!” (II Sử Ký 36:22-23)

Có 49,897 người I-sơ-ra-ên quay về Giê-ru-sa-lem xây dựng lại đền thờ [4].

Năm Do-thái: 3246
Năm Julian: 515 TCN
Năm Thánh Kinh: 932

Đền thờ Thiên Chúa được hoàn tất, còn gọi là Đền Thờ Thứ Nhì: “Ngày thứ ba tháng A-đa, nhằm năm thứ sáu đời vua Đa-ri-út, cái đền nầy được xây cất xong.” (Ê-xơ-ra 6:15)

Năm Do-thái: 3304
Năm Julian: 457 TCN
Năm Thánh Kinh: 990

Ngày 1 tháng Nissan năm 3304 Lịch Do-thái, nhằm ngày 26 tháng 3 năm 457 TCN Lịch Julian, E-xơ-ra từ Ba-by-lôn khởi hành về lại Giê-ru-sa-lem để thiết lập lại việc thờ phượng Thiên Chúa theo chiếu chỉ của Vua Ạt-ta-xét-xe, Vương Quốc Phe-rơ-sơ (E-xơ-ra 7:9).

Theo Đa-ni-ên 9:24-26, Đức Chúa Jesus Christ sẽ bị giết vào cuối của tuần thứ 69 trong 70 tuần Thiên Chúa đã định cho dân I-sơ-ra-ên kể từ ngày Vua Ạt-ta-xét-xe ra chiếu chỉ cho E-xơ-ra. Mỗi một tuần tương đương 7 năm: “Có bảy mươi tuần lễ định trên dân ngươi và thành thánh ngươi, đặng ngăn sự phạm phép, trừ tội lỗi, làm sạch sự gian ác, và đem sự công bình đời đời vào, đặng đặt ấn tín nơi sự hiện thấy và lời tiên tri, và xức dầu cho nơi rất thánh. Ngươi khá biết và hiểu rằng từ khi ra lịnh tu bổ và xây lại Giê-ru-sa-lem, cho đến Đấng chịu xức dầu, tức là vua, thì được bảy tuần lễ và sáu mươi hai tuần lễ; thành đó sẽ được xây lại, có đường phố và hào, trong kỳ khó khăn. Sau sáu mươi hai tuần lễ đó, Đấng chịu xức dầu sẽ bị trừ đi, và sẽ không có chi hết. Có dân của vua hầu đến sẽ hủy phá thành và nơi thánh; cuối cùng nó sẽ như bị nước lụt ngập, có sự tranh chiến cho đến cuối cùng; những sự hoang vu đã định.”

Như vậy, từ khi Vua Ạt-ta-xét-xe ra chiếu chỉ cho E-xơ-tê vào ngày 1 tháng Nissan năm 3304 Lịch Do-thái, cho đến khi Đức Chúa Jesus Christ, (Christ có nghĩa là Đấng chịu xức dầu) bị giết vào ngày 14 tháng Nissan năm 3787 Lịch Do-thái, là 69 tuần lễ, tương đương 483 năm. Ứng nghiệm lời tiên tri trong Đa-ni-ên 9:24-26.

Năm Do-thái: 3328
Năm Julian: 433 TCN
Năm Thánh Kinh: 1014

Ma-la-chi, tiên tri cuối cùng của Thời Cựu Ước [5].

Năm Do-thái: 3754
Năm Julian: 7 TCN
Năm Thánh Kinh: 1440

Đức Chúa Jesus giáng sinh tại Bết-lê-hem, xứ Giu-đa: “Lúc ấy, Sê-sa Au-gút-tơ ra chiếu chỉ phải lập sổ dân trong cả thiên hạ. Việc lập sổ dân nầy là trước hết, và nhằm khi Qui-ri-ni-u làm quan tổng đốc xứ Sy-ri. Ai nấy đều đến thành mình khai tên vào sổ. Vì Giô-sép là dòng dõi nhà Đa-vít, cho nên cũng từ thành Na-xa-rét, xứ Ga-li-lê, lên thành Đa-vít, gọi là Bết-lê-hem, xứ Giu-đê, để khai vào sổ tên mình và tên Ma-ri, là người đã hứa gả cho mình đương có thai. Đang khi hai người ở nơi đó, thì ngày sanh đẻ của Ma-ri đã đến. Người sanh con trai đầu lòng, lấy khăn bọc con mình, đặt nằm trong máng cỏ, vì nhà quán không có đủ chỗ ở. Vả, cũng trong miền đó, có mấy kẻ chăn chiên trú ngoài đồng, thức đêm canh giữ bầy chiên. Một thiên sứ của Chúa đến gần họ, và sự vinh quang của Chúa chói lòa xung quanh, họ rất sợ hãi. Thiên sứ bèn phán rằng: Đừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một Tin Lành, sẽ làm một sự vui mừng lớn cho muôn dân; ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu thế, là Christ, là Chúa.” (Lu-ca 2:1-11)

Đức Chúa Jesus Christ có thể được sinh ra vào đêm 15 tháng Tishrei (tháng 7) năm 3755 Lịch Do-thái, nhằm ngày thứ nhất của Lễ Lều Tạm (Lê-vi Ký 23:34). Ý nghĩa của Lễ Lều Tạm là kỷ niệm sự dân I-sơ-ra-ên phải ở trong các lều trại khi được Thiên Chúa giải phóng ra khỏi xứ Ai-cập (Lê-vi Ký 23:42-43). Tuy nhiên, một trong các ý nghĩa thuộc linh của Lễ lều Tạm thì Lễ Lều Tạm làm hình bóng về sự Thiên Chúa Ngôi Con sẽ nhập thế làm người mà Thánh Kinh gọi là “đóng trại giữa chúng ta” để giải cứu nhân loại ra khỏi ách nô lệ của tội lỗi: “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, đóng trại giữa chúng ta. Chúng ta đã ngắm xem sự vinh quang của Ngài: là vinh quang của Con Một đến từ nơi Cha, đầy ơn và lẽ thật.” (Giăng 1:14)

Ngày nay, nếu con dân Chúa muốn kỷ niệm sinh nhật Chúa thì nên kỷ niệm vào ngày Lễ Lều Tạm, thay vì kỷ niệm vào ngày 25 tháng 12 là ngày kỷ niệm sinh nhật thần mặt trời của ngoại giáo, với đủ các thứ phong tục mê tín dị đoan và truyền thuyết của ngoại giáo. Cũng đừng gọi lễ kỷ niệm sự giáng sinh của Chúa là Christmas. Ý nghĩa thật của Christmas là “Mass of Christ” tức là sự chết để làm sinh tế chuộc tội của Đấng Christ! Kỷ niệm Christmas là kỷ niệm sự chết của Chúa và thờ phượng Chúa qua lễ nghi của ngoại giáo chứ không bằng lẽ thật. Xin đọc thêm các bài: “Sự Thật về Christmas,” “Thờ Chúa Không Biết,” và “Lẽ Thật Đương Nhiên về Christmas” [7].

Năm Do-thái: 3757
Năm Julian: 4 TCN
Năm Thánh Kinh: 1444

Vua Hê-rốt qua đời trong khoảng thời gian sau ngày 13 tháng 3 năm 4 TCN nhưng trước ngày Lễ Vượt Qua nhằm ngày 14 tháng 4 năm 4 TCN. Sử Gia Josephus ghi rằng, Vua Hê-rốt chết sau ngày nguyệt thực nhưng trước ngày Lễ Vượt Qua [6].

Năm Do-thái: 3770
Năm Julian: 10
Năm Thánh Kinh: 1456

Sê-sa Ti-be-rơ lên ngôi đồng trị với Sê-sa Au-gút-tơ vào năm 10, (Sê-sa Au-gút-tơ qua đời năm 14). Năm thứ 15 của đời Sê-sa Ti-be-rơ được ghi trong Lu-ca 3:1 là năm 25: “Năm thứ mười lăm đời Sê-sa Ti-be-rơ, khi Bôn-xơ Phi-lát làm quan tổng đốc xứ Giu-đê, Hê-rốt làm vua chư hầu xứ Ga-li-lê, Phi-líp em vua ấy làm vua chư hầu xứ Y-tu-rê và tỉnh Tra-cô-nít, Ly-sa-ni-a làm vua chư hầu xứ A-by-len.”

Như vậy, Giăng Báp-tít và Đức Chúa Jesus Christ đều bắt đầu chức vụ vào năm 25 và Đức Chúa Jesus Christ chịu chết vào năm 27.

Năm Do-thái: 3774
Năm Julian: 14
Năm Thánh Kinh: 1460

Sê-sa Au-gút-tơ qua đời, Sê-sa Ti-be-rơ toàn quyền cai trị Đế Quốc La-mã.

Năm Do-thái: 3785
Năm Julian: 25
Năm Thánh Kinh: 1471

Giăng Báp-tít bắt đầu chức vụ: “Năm thứ mười lăm đời Sê-sa Ti-be-rơ, khi Bôn-xơ Phi-lát làm quan tổng đốc xứ Giu-đê, Hê-rốt làm vua chư hầu xứ Ga-li-lê, Phi-líp em vua ấy làm vua chư hầu xứ Y-tu-rê và tỉnh Tra-cô-nít, Ly-sa-ni-a làm vua chư hầu xứ A-by-len, An-ne và Cai-phe làm thầy cả thượng phẩm, thì có Lời của Thiên Chúa truyền cho Giăng, con Xa-cha-ri, ở nơi đồng vắng. Giăng bèn dạo qua hết thảy miền lân cận sông Giô-đanh, giảng dạy phép báp-tem về sự ăn năn để được tha tội.” (Lu-ca 3:1-3)

Đức Chúa Jesus Christ chịu báp-tem và bắt đầu chức vụ: “Vả, khi hết thảy dân chúng đều chịu phép báp-tem, Đức Chúa Jesus cũng chịu phép báp-tem. Ngài đương cầu nguyện thì trời mở ra, Đức Thánh Linh lấy hình chim bò câu ngự xuống trên Ngài; lại có tiếng từ trên trời phán rằng: Ngươi là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường.” (Lu-ca 3:21-22)

Đức Chúa Jesus Christ bắt đầu chức vụ vào lúc khoảng 30 tuổi: “Khi Đức Chúa Jesus khởi sự làm chức vụ mình thì Ngài có độ ba mươi tuổi…” (Lu-ca 3:23)

Đức Chúa Jesus Christ được sinh ra vào khoảng đầu tháng 10 năm 7 TCN. Có thể là Ngài được sinh ra vào đêm 15 tháng Tishrei (tháng 7) năm 3755 Lịch Do-thái, nhằm ngày thứ nhất của Lễ Lều Tạm (Lê-vi Ký 23:34), nhằm đêm thứ tư ngày 7 bước sang thứ năm ngày 8 tháng 10 năm 7 TCN. Ngài chịu báp-tem và bắt đầu chức vụ trước Lễ Vượt Qua năm 25 (thứ hai, 02.04.25 Lịch Julian) thì như vậy, Ngài chưa đầy 31 tuổi. Cách tính (1) theo Lịch Julian: Lấy năm 7 TCN trừ năm 1 TCN = 6. Lấy năm 25 trừ năm 1 = 24. Lấy 6+24=30. Nên nhớ, không có năm 0 giữa năm 1 TCN và năm 1. Cách tính (2) theo Lịch Do-thái: Lấy năm 3785 trừ cho năm 3754 = 31. Chúa được sinh ra vào khoảng đầu tháng Tishrei (tháng 7) năm 3754 và chịu báp tem trước tháng Nissan (tháng Giêng) năm 3785, cho nên, vào lúc chịu báp-tem để bắt đầu chức vụ, Ngài đã qua 30 tuổi nhưng chưa đến 31 tuổi.

Năm Do-thái: 3787
Năm Julian: 27
Năm Thánh Kinh: 1473

Đức Chúa Jesus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá và chết để chuộc tội nhân loại vào khoảng 3 giờ chiều ngày thứ tư 14 tháng Nissan năm 3787 Lịch Do-thái, nhằm thứ tư ngày 9 tháng 4 năm 27 Lịch Julian. Thân xác Ngài đã nghỉ yên trong lòng đất đúng ba ngày và ba đêm trước khi Ngài sống lại vào khoảng trước khi mặt trời lặn của ngày thứ bảy (ngày Sa-bát); làm ứng nghiệm lời tiên tri của chính Ngài: “Vì Giô-na đã bị ở trong bụng cá lớn ba ngày ba đêm, cũng một thể ấy, Con Người sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm.” (Ma-thi-ơ 12:40 đối chiếu Giô-na 2:1)

Ngày nay, nếu chúng ta muốn kỷ niệm sự thương khó của Chúa thì chúng ta phải kỷ niệm vào ngày Lễ Vượt Qua, và nếu chúng ta muốn kỷ niệm sự phục sinh của Chúa thì chúng ta phải kỷ niệm vào buổi chiều, trước khi mặt trời lặn, sau ngày Lễ Vượt Qua ba ngày ba đêm. Ngày “Thứ Sáu Thương Khó” và Lễ Easter hàng năm không phải là ngày Chúa chết và ngày Chúa phục sinh. Chúa không chết vào ngày thứ sáu và Lễ Easter là một lễ của dân ngoại giáo mừng ngày phục sinh của Easter với đủ các thứ phong tục và cách trang trí đầy mê tín dị đoan của ngoại giáo. Easter là tên nữ thần của mùa màng và sự sinh sản của dân ngoại giáo. Kỷ niệm “Thứ Sáu Thương Khó” và Easter là thờ phượng Chúa qua lễ nghi của ngoại giáo và không bằng lẽ thật. Xin xem chi tiết về ngày Chúa chết và ngày Chúa phục sinh trong bài “Ngày Chúa Chết và Ngày Chúa Phục Sinh” [8].

Đức Thánh Linh giáng lâm và Hội Thánh của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jesus Christ được thành lập vào ngày Lễ Ngũ Tuần, thứ sáu, ngày 6 tháng Sivan (tháng 3) năm 3787 Lịch Do-thái; nhằm thứ sáu ngày 30 tháng 5 năm 27 Lịch Julian. Ngày ấy không phải là chủ nhật (ngày thứ nhất) trong tuần lễ như truyền thống của các giáo hội dạy. Ngũ Tuần là “năm nhật tuần,” mỗi nhật tuần là 10 ngày. Lễ Ngũ Tuần rơi vào ngày thứ 50, sau ngày Sa-bát của Lễ Bánh Không Men: “Đến ngày mười bốn tháng giêng, vào buổi chiều tối, ấy là lễ Vượt Qua của Đức Giê-hô-va; qua ngày rằm tháng nầy, ấy là lễ bánh không men để kính trọng Đức Giê-hô-va; các ngươi sẽ ăn bánh không pha men trong bảy ngày. Ngày đầu, các ngươi sẽ có một sự nhóm hiệp thánh, chẳng nên làm một công việc xác thịt [tức là ngày Lễ Sa-bát]. Trong bảy ngày các ngươi phải dâng cho Đức Giê-hô-va những của lễ dùng lửa dâng lên; đến ngày thứ bảy, sẽ có một sự nhóm hiệp thánh nữa, các ngươi đừng làm một công việc xác thịt nào hết [tức là ngày Lễ Sa-bát]. Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng: Hãy truyền cho dân I-sơ-ra-ên rằng: Khi nào các ngươi đã vào xứ mà Ta sẽ ban cho, và đã gặt mùa màng rồi, thì hãy đem đến cho thầy tế lễ một bó lúa đầu mùa của các ngươi. Qua ngày sau Lễ Sa-bát, thầy tế lễ sẽ dâng bó lúa đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va, hầu cho bó lúa đó được nhậm. Chánh ngày dâng bó lúa đưa qua đưa lại đó, các ngươi cũng phải dâng cho Đức Giê-hô-va một chiên con giáp năm, không tì vít chi, đặng làm của lễ thiêu; và dâng thêm một của lễ chay bằng hai phần mười bột lọc chế dầu, làm của lễ dùng lửa dâng lên, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va, với một phần tư hin rượu, làm lễ quán. Các ngươi chớ ăn hoặc bánh, hoặc hột lúa rang, hoặc lúa đang ở trong gié cho đến chánh ngày nầy, tức là ngày các ngươi đem dâng của lễ cho Thiên Chúa mình. Mặc dầu ở nơi nào, ấy là một lệ định đời đời cho con cháu các ngươi. Kể từ ngày sau Lễ Sa-bát, là ngày đem bó lúa dâng đưa qua đưa lại, các ngươi sẽ tính bảy tuần lễ trọn: các ngươi tính năm mươi ngày cho đến ngày sau của Lễ Sa-bát thứ bảy, thì phải dâng một của lễ chay mới cho Đức Giê-hô-va.” (Lê-vi Ký 23:5-16)

Ngày Lễ Sa-bát được dùng làm ngày dâng các bó lúa đầu mùa được nói đến trong phân đoạn nêu trên, chính là ngày Lễ Sa-bát 15 tháng Nissan, cũng là ngày đầu tiên của Lễ Bánh Không Men, và là ngày Lễ Sa-bát đầu tiên trong các ngày Lễ Sa-bát. Chúng ta có Lễ Vượt Qua của năm 3787 Lịch Do-thái (27 TCN Lịch Julian) nhằm ngày thứ tư, 14 tháng Nissan (tháng Giêng) và ngày Sa-bát đầu tiên của Lễ Bánh Không Men nhằm thứ năm ngày 15 tháng Nissan.

  • Tháng Nissan (tháng Giêng) có 30 ngày

  • Tháng Iyyar (tháng 2) có 29 ngày

  • Tháng Sivan (tháng 3) có 30 ngày

Vậy, 50 ngày sau ngày 15 tháng Nissan phải là thứ sáu, ngày 6 tháng Sivan (tháng 3). Lễ Ngũ Tuần luôn luôn rơi vào ngày 6 tháng Sivan theo Lịch Do-thái [9].

Ngày nay, con dân Chúa muốn kỷ niệm Lễ Ngũ Tuần thì phải kỷ niệm vào ngày 6 tháng Sivan theo Lịch Do-thái. Ngày đó có thể rơi vào các thứ tự khác nhau trong tuần lễ chứ không phải luôn luôn là chủ nhật như truyền thống của các giáo hội dạy.

Năm Do-thái: 3830
Năm Julian: 70
Năm Thánh Kinh: 1516

Thành Giê-ru-sa-lem và đền thờ Thiên Chúa (còn gọi là Đền Thờ Thứ Nhì) bị hủy diệt bởi quân đội La-mã. Đền thờ bị hủy diệt đến nổi không còn một hòn đá nào chồng lên một hòn đá nào, ứng nghiệm lời tiên tri của Đức Chúa Jesus Christ: “Khi Đức Chúa Jesus ra khỏi đền thờ, đương đi, thì môn đồ đến gần để chỉ cho Ngài xem các nhà thuộc về đền thờ. Ngài phán rằng: Các ngươi có thấy mọi điều đó chăng? Quả thật, ta nói cùng các ngươi, đây sẽ không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn khác mà không bị đổ xuống” (Ma-thi-ơ 24:1-2). Lời tiên tri này đã được Đức Chúa Jesus Christ tiên tri 43 năm trước đó.

Năm Do-thái: 5364
Năm Gregorian: 1604
Năm Thánh Kinh: 3050

Ghi chú: Kể từ đây trở đi chúng tôi dùng Lịch Gregorian để ghi lại các sự kiện trong thế giới sử.

Ngày 22.7.1604, Vua King James I của Anh Quốc ra chiếu chỉ phiên dịch toàn bộ Thánh Kinh từ nguyên ngữ Hê-bơ-rơ và Hy-lạp sang Anh ngữ.

Năm Do-thái: 5371
Năm Gregorian: 1611
Năm Thánh Kinh: 3057

Thánh Kinh Anh Ngữ Bản Dịch King James (The Holy Bibile – King James Version) được hoàn thành sau 7 năm phiên dịch bởi 47 học giả.

Năm Do-thái: 5380
Năm Gregorian: 1620
Năm Thánh Kinh: 3066

Những di dân đầu tiên từ Âu Châu đặt chân trên đất Mỹ.

Năm Do-thái: 5536
Năm Gregorian: 1776
Năm Thánh Kinh: 3222

Quốc Gia Hoa Kỳ được thành lập với 13 thuộc địa vào ngày 4.7.1776.

Năm Do-thái: 5674
Năm Gregorian: 1914
Năm Thánh Kinh: 3360

Ngày 28.7.1914, Thế Giới Đại Chiến Lần Thứ Nhất khai diễn và kết thúc vào ngày 11.11.1918.

Thế Giới Đại Chiến Lần Thứ Nhất mở màn cho các cuộc chiến tranh và tiếng đồn về chiến tranh có tầm mức toàn cầu, làm ứng nghiệm lời tiên tri của Đức Chúa Jesus Christ trước đó 1912 năm, khởi đầu cho các dấu hiệu báo điềm Chúa đến và kỳ tận thế: “Các ngươi sẽ nghe nói về giặc và tiếng đồn về giặc: hãy giữ mình, đừng bối rối, vì những sự ấy phải đến; song chưa là cuối cùng đâu. Dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia; nhiều chỗ sẽ có đói kém và động đất. Song mọi điều đó chỉ là đầu sự tai hại.” (Ma-thi-ơ 24:6-8)

Năm Do-thái: 5699
Năm Gregorian: 1939
Năm Thánh Kinh: 3385

Ngày 1.9.1939, Thế Giới Đại Chiến Lần Thứ Nhì khai diễn và kết thúc vào ngày 15.8.1945.

Năm Do-thái: 5708
Năm Gregorian: 1948
Năm Thánh Kinh: 3394

Thứ sáu, ngày 14.5.1948 Lịch Gregorian, nhằm thứ sáu, ngày 5 tháng Iyyar (tháng 2) năm 5708 Lịch Do-thái. Quốc Gia I-sơ-ra-ên được tái lập, ứng nghiệm lời tiên tri của Thiên Chúa từ hơn 2700 năm trước: “Ai đã hề nghe một sự thể nầy? Ai đã hề thấy sự gì giống như vậy? Nước há dễ sanh ra trong một ngày, dân tộc há dễ sanh ra trong một chặp? Mà Si-ôn mới vừa nằm nơi, đã sanh con cái” (Ê-sai 66:8).

Chính trong ngày đầu tiên vừa tái lập quốc đó, I-sơ-ra-ên đã phải chiến đấu chống lại sự tấn công của liên khối Hồi Giáo, bao gồm: Ai-cập, Giô-đanh, Sy-ri-a, Lê-ba-non, và I-rắc. Cuộc chiến đó được mang tên là “Chiến Tranh Dành Độc Lập,” kéo dài 15 tháng và làm thiệt mạng trên 6,000 người I-sơ-ra-ên [10].

Ngày 14.12.1949, Giê-ru-sa-lem trở thành thủ đô của I-sơ-ra-ên [11].

Năm Do-thái: 5727
Năm Gregorian: 1967
Năm Thánh Kinh: 3413

Cuộc Chiến Sáu Ngày, từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 6 năm 1967, nhằm ngày 2 tháng Sivan (tháng 3) năm 5727 Lịch Do-thái, diễn ra giữa I-sơ-ra-ên và liên quân các nước Hồi Giáo. Kết quả, I-sơ-ra-ên chiếm được vùng Gaza Strip và Bán Đảo Sinai từ Ai-cập, vùng West Bank và Đông Giê-ru-sa-lem từ Giô-đanh, vùng Golan Heights từ Sy-ri-a. Đây là lần đầu tiên I-sơ-ra-ên hoàn toàn làm chủ thành Giê-ru-sa-lem sau hơn 2,000 năm thành bị cai trị bởi dân ngoại [12].

Năm Do-thái: 5807
Năm Gregorian: 2047
Năm Thánh Kinh: 3493

Ngày 2 tháng Sivan (tháng 3) năm 5807 Lịch Do-thái, nhằm ngày 27.5.2047, sẽ tròn 80 năm kể từ ngày I-sơ-ra-ên chiếm lại toàn thành Giê-ru-sa-lem và thiết lập thủ đô tại Giê-ru-sa-lem.

Ma-thi-ơ 24:32-35 ghi lại lời tiên tri của Đức Chúa Jesus Christ về kỳ tận thế: “Hãy nghe lời ví dụ về cây vả, vừa lúc nhành non, lá mới đâm, thì các ngươi biết mùa hạ gần tới. Cũng vậy, khi các ngươi thấy mọi điều ấy, khá biết rằng Con người gần đến, Ngài đương ở trước cửa. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, dòng dõi nầy chẳng qua trước khi mọi điều kia chưa xảy đến. Trời đất sẽ qua, nhưng lời ta nói chẳng bao giờ qua đi.” Thánh Kinh dùng cây vả làm hình ảnh tiêu biểu cho dân I-sơ-ra-ên. Nếu hiểu rằng, sự kiện cây vả ra nhành non và lá mới tiêu biểu cho sự dân I-sơ-ra-ên tái lập quốc và tái chiếm lại thành Giê-ru-sa-lem, thì thế hệ sinh ra trong năm 1967 sẽ chẳng qua đi trước khi kỳ tận thế đến.

Thi Thiên 90:10 cho biết, đời người là 70 năm hoặc 80 năm: “Tuổi tác của chúng tôi đến được bảy mươi, Còn nếu mạnh khỏe thì đến tám mươi; Song sự kiêu căng của nó bất quá là lao khổ và buồn thảm, Vì đời sống chóng qua, rồi chúng tôi bay mất đi.” Vậy, chúng ta có thể suy diễn rằng, kỳ tận thế ắt phải xảy ra vào thời điểm sớm nhất là tháng sáu năm 1967 và trể nhất cũng không quá tháng 6 năm 2037 (nếu một dòng dõi là 70 năm) hoặc tháng 6 năm 2047 (nếu một dòng dõi là 80 năm).

Cuốn sách này được viết xong và phát hành vào năm 2013. Như vậy, rất có thể kỳ tận thế sẽ xảy ra trong vòng từ 24 đến 34 năm, kể từ tháng 6 năm 2013. Tuy nhiên, sự kiện Đức Chúa Jesus Christ sẽ đến giữa chốn không trung để đem Hội Thánh của Ngài, là những ai thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Ngài, và hết lòng sống theo những điều dạy dỗ của Thánh Kinh thì có thể xảy ra bất kỳ lúc nào trước kỳ tận thế: “Về ngày và giờ đó, chẳng có ai biết chi cả, thiên sứ trên trời hay là Con cũng vậy, song chỉ một mình Cha biết thôi. Trong đời Nô-ê thể nào, khi Con người đến cũng thể ấy. Vì trong những ngày trước nước lụt, người ta ăn, uống,cưới, gả như thường cho đến ngày Nô-ê vào tàu,người ta không ngờ chi hết cho đến khi nước lụt tới mà đùa đem đi hết thảy, khi Con người đến cũng như vậy. Lúc ấy, sẽ có hai người nam ở trong một đồng ruộng, một người được đem đi, còn một người bị để lại; và có hai người nữ đương xay cối, một người được đem đi, còn một người bị để lại. Vậy hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày nào Chúa mình sẽ đến.”

Vì Chúa sẽ đem Hội Thánh của Ngài ra khỏi thế gian trước bảy năm đại nạn của kỳ tận thế, cho nên:

  • Nếu một dòng dõi tương đương với một đời người là 70 năm, thì kể từ tháng 6.2013 sẽ chỉ còn 24 năm để lời tiên tri về tận thế được hoàn thành. Như vậy, trừ ra 7 năm đại nạn sẽ còn lại 17 năm là khoảng thời gian dài nhất mà Hội Thánh còn ở lại trong thế gian. Tuy nhiên, Chúa có thể đến để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian bất kỳ lúc nào trong vòng 17 năm sắp tới, kể cả lúc quý bạn đọc đang đọc những dòng chữ này.

  • Nếu một dòng dõi tương đương với một đời người là 80 năm, thì kể từ tháng 6.2013, Chúa có thể đến để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian bất kỳ lúc nào trong vòng 27 năm sắp tới.

Những ai không thuộc về Hội Thánh của Chúa sẽ bị bỏ lại trong thế gian và chịu khổ suốt bảy năm đại nạn của kỳ tận thế, như đã được tiên tri và diễn tả trong sách Khải Huyền của Thánh Kinh, mà chúng tôi sẽ trình bày trong các chương kế tiếp.

Xin nhớ rằng: Chúng tôi hoàn toàn không đưa ra ngày giờ Chúa đến hay ngày giờ khởi đầu kỳ tận thế. Chúng tôi chỉ đưa ra các dữ kiện giúp mọi người nhận biết: Ngày Chúa đến đã gần và như vậy, ngày tận thế cũng đã gần.

Ghi Chú

[1] Thánh Kinh không nói rõ ai là con trưởng và ai là con út nhưng dựa theo thứ tự gia phổ trong Sáng Thế Ký 10 chúng ta có thể đoán: Gia-phết là con trưởng, Cham là con thứ, và Sem là con út. Tuy nhiên, tên của Sem luôn luôn được nhắc đến trước là vì từ Sem sẽ sinh ra dân tộc Israel, và dân tộc Israel sẽ được Thiên Chúa chọn để thực hiện công cuộc cứu rỗi nhân loại. Như vậy, Khi Nô-ê 500 tuổi thì sinh ra Gia-phết, khi ông 501 tuổi thì sinh ra Cham, và khi ông 502 tuổi thì sinh ra Sem.

[2] http://www.biblestudy.org/prophecy/israel-kings.html

[3] http://en.wikipedia.org/wiki/Siege_of_Jerusalem_%28587_BC%29

[4] E-xơ-ra 2.

[5] http://www.miketaylor.org.uk/xian/bible/timeline.html

[6] Flavius Josephus. Jewish Antiquities, 17.6.4.

[7] http://timhieuthanhkinh.net/?p=47

[8] http://timhieuthanhkinh.net/?p=38

[9] http://www.jewfaq.org/holidayc.htm

[10] http://www.mfa.gov.il/MFA/History/History+of+Israel/HISTORY-%20The%20State%20of%20Israel

[11] http://www.answers.com/topic/jerusalem

[12] http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_S%C3%A1u_ng%C3%A0y

Share This:

Comments are closed.

5,254 views